Thể loại

Thứ Ba, 16 tháng 2, 2021

Thư Tình Gửi Hư Không

 Thư tình gửi hư không

                       4U


Thẫn thờ vo chặt thành viên

Búng đi dội lại muộn phiền to hơn

Sóng buồn lên xuống từng cơn

Lan ra biển nhớ cô đơn đêm ngày


Tình kia phải kiếp tù đày

Trời kia giả điếc khéo bày cuộc đua

Lâm râm pha tiếng chuông chùa

Ai đem duyên số ra đùa với ai


Trần ai ai biết đúng sai

Cân lên hạ xuống những hai ba lần

Chân thành ngại đám phù vân

Nhân gian sợ quả thánh thần sợ nhân




Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2021

Dại Khôn

Dại Khôn

Cuộc đời ai dở ai hay
Ai đem chốc lát để thay đường dài
Ai gieo ai gặt quả sai
Ai cho ai nhận nhầm vai xác hồn

Tình yêu ai dại ai khôn
Ai đem toan tính vẽ hồn mộng mơ
Ai chơi ai đứng làm cờ
Ai thua ai được lập lờ tỉnh say

Cuộc đời nhiều dở hoá hay
Quá hay lại dở đắng cay mắt buồn
Tình yêu cùng dại thành khôn
Hai khôn hoá dại vùi chôn cuộc tình

Tết Tân Sửu 2021



Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021

Nữ Nhi Tình - Anh Hùng Chí

(Nữ Nhi Tình)

Uyên ương đôi bướm lả lơi

Vườn xuân sắc thắm hai người lầu văn 

Thẹn thùng xin hỏi thánh tăng

Người đây cảnh đấy đẹp chăng mắt ngài 

Vương quyền phú quý chẳng hoài

Thanh quy giới luật bỏ ngoài vườn xuân

Kiếp này xin một đặc ân 

Tu hành đổi áo minh quân ngai vàng

Thiếp xin trọn kiếp yêu chàng

Uyên ương thiếp thiếp chàng chàng bên nhau.

    *    *    *

(Anh Hùng Chí)

Vườn tình lặng bước bên nàng

Gió tình mơn nhẹ hai hàng tóc mai

Hương tình dẫn lối thiên thai

Tỉnh say cơn mộng thoáng hai bóng hình

Tiếng chuông xa lạnh giật mình

Chí trai khéo nhỡ sông tình hụt chân

Thanh bần đã ngấm vào thân

Kiếp này đã chót độ dân cứu đời

Thanh cao xin hẹn một lời

Kiếp sau trở lại rong chơi bên nàng.


Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2020

Nữ Nhi Tình

Trong Tây Du Ký, Trần Huyền Trang, Đường Tăng, phải trải qua 81 kiếp nạn mới lấy được chân Kinh. Thành chính quả không bởi vì đọc được chân Kinh mà vì những gì đã ngộ ra sau mỗi kiếp nạn. "Kiếp nạn" ở Tây Lương Nữ Quốc có vẻ là khó vượt qua nhất, Đường Tăng bản lĩnh cao cường, ấy vậy mà trước vẻ đẹp của nữ vương, mắt nhắm chặt, miệng niệm Phật mà mồ hôi vã ra như tắm. Chứng tỏ là tâm can đã không còn giữ được tĩnh lặng, một sự đấu tranh gay gắt đang diễn ra. Mắt mở thì chưa chắc đã thoát được "nạn" này. Đúng là anh hùng không sợ yêu quái, chỉ sợ mỹ nhân.

Dưới đây là bài thơ dựa theo ý bài hát Nữ Nhi Tình nói lên tâm sự của nữ vương. Sắp tới sẽ ra mắt bài Anh Hùng Chí là lời đáp của Đường Tam Tạng.


Uyên ương đôi bướm lả lơi

Vườn xuân sắc thắm hai người lầu văn 

Thẹn thùng xin hỏi thánh tăng

Người đây cảnh đấy đẹp chăng mắt ngài 

Vương quyền phú quý chẳng hoài

Thanh quy giới luật bỏ ngoài vườn xuân

Kiếp này xin một đặc ân 

Tu hành đổi áo minh quân ngai vàng

Thiếp xin trọn kiếp yêu chàng

Uyên ương thiếp thiếp chàng chàng bên nhau





Thứ Năm, 30 tháng 7, 2020

Mô Hình Kinh Doanh Trong Xuất Bản Báo Khoa Học

Gần đây có nhiều thảo luận về các tờ báo săn mồi (predatory journals), nhiều tên tờ báo cụ thể được đưa ra, tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi từ phê phán gay gắt đến bảo vệ bằng được. Mọi thứ tồn tại đều có logic của nó, tôi muốn đề cập đến cái logic đằng sau này thay vì tập trung vào những tờ báo cụ thể. 

Làm nghiên cứu phát triển ở công ty, cho tôi cách nhìn của một "con buôn", mọi thứ đều là một thương vụ (everything is a business case). 

Mô hình xuất bản báo truyền thống là người đọc phải trả tiền, trả qua từng bài báo hay thuê bao. Thông thường các trường, viện nghiên cứu, và công ty lớn ở các nước phát triển đều trả tiền thuê bao hàng năm cho các thư viện lớn. Máy tính từ mạng nội bộ của các tổ chức này sẽ được quyền truy cập vào kho thư viện. Những trường viện và công ty tôi từng làm việc kể cả Panasonic R&D ở Việt Nam đều có thể truy cập IEEE Explorer, là một thư viện lớn tập trung hầu hết tờ báo uy tín trong ngành điện điện tử. Phí thuê bao là nguồn thu nhập chính của các báo khoa học, nó đến từ nguồn chi thường xuyên của các tổ chức nghiên cứu. Trong một thời gian dài đến đầu những năm 2000. Các tổ chức rất rộng rãi trong việc thuê bao, nhưng khi có khủng hoảng kinh tế, mọi chí phí đều bị cắt giảm. Chỉ có thuê bao với những thư viện uy tín là được giữ lại, còn lại bị cắt hết. Các tờ báo kém uy tín phải tìm cách thay đổi mô hình kinh doanh, nếu không sẽ chết. 

Mô hình truy cập mở (open access) được ra đời từ khá lâu, với mục tiêu ban đầu rất trong sáng là muốn phá bỏ rào cản (trả tiền để truy nhập) trong việc tiếp cận kiến thức. Ban đầu mô hình này được phát triển khá khiêm tốn nhưng nở rộ mạnh mẽ trong chục năm trở lại đây. Nhiều người đã nhận ra đây là một mô hình kiếm tiền rất tốt. Thay bởi vì người đọc phải trả tiền thì người đăng phải trả tiền. Thay vì hút tiền từ ngân quỹ chi thường xuyên đang teo dần thì cái vòi hút chọc trực tiếp vào ngân quỹ của các đề tài khoa học (tác giả không ai bỏ tiền túi ra mà đều lấy từ ngân quỹ của các dự án). Mà ngân quỹ của các dự án khoa học, nhất là các dự án được ngân sách nhà nước tài trợ, rất lớn và tăng rất nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển mạnh. 

Đấy mới chỉ là bên vế cung, vế cầu cũng phải lớn thì mô hình này mới phát triển mạnh như vậy. Những nước chập chững làm khoa học đều dựa nhiều vào số lượng bài báo để đánh giá thành công của đề tài khoa học có nguồn tài trợ công. Thế là nhà nhà người người tìm cách đăng báo, nhanh nhiều tốt rẻ. Có nhiều báo là dự án thành công, có nhiều báo là có học hàm học vị, có nhiều báo là sẽ nhận được nhiều tài trợ hơn, quá nhiều cái lợi. Mục đích tối hậu của dự án là có báo đăng? Thế nên có cầu ắt có cung, nhiều tờ báo săn mồi ra đời. 

Chưa tính đến những tờ báo mang những tên lạ hoắc. Thử nhìn vào những chỗ rất uy tín như Nature Communications của Springer, đặt một vài phép tính nhanh để thấy lợi nhuận ra sao. Đăng một bài báo ở đây khoảng $4000,  năm 2019 có tổng cộng 55233 bài, doanh thu như vậy là khoảng $220 triệu.  Chi phí để vận hành bộ máy thì không đáng là bao, thuê vài máy chủ là đủ hạ tầng, reviewers thì thường là tình nguyện, chi phí lớn nhất là trả những mức lương khủng cho ban điều hành. Mô hình kinh doanh siêu lợi nhuận. Thế nên có những nhà xuất bản lạ hoắc cũng kiếm ăn theo cách dù không bộn tiền như Springer. Do đó đã có nhiều lời kêu gọi tẩy chay open access. 

Nhiều công ty cấm đăng báo ở open access và nhiều trường viện lớn đều không khuyến khích. Thực tế mỗi ngành đều có một vài tờ báo đầu ngành. Nếu ông nào nghiên cứu nghiêm túc, có chất lượng thì cứ chỗ đấy mà đăng việc gì phải đăng ở open access cho tốn tiền. Chả phải lý luận loanh quanh, chẳng qua là những chỗ đấy nộp nó mới nhận, nó nhận bài để lấy tiền thì nó chối làm gì. Đó là logic lợi ích hiển nhiên.

Thế nên những thư mời đăng báo từ nhà xuất bản lạ hoắc là tôi cho vào ngay spam, thư mời review hay làm editor cho open access lạ là tôi cũng reject luôn, không tiếp tay.

Cũng phải nói cho công bằng là vẫn có những tờ open access nghiêm chỉnh, muốn biết nghiêm chỉnh hay không thì xem có hiệp hội nghề nghiệp uy tín nào đứng đằng sau, ai trong ban editors, ai đăng báo ở đấy, chất lượng bài đã đăng thế nào, thu phí thế nào, có hoạt động phi lợi nhuận không, v.v. 

Với những bạn mới làm khoa học, các bạn bỏ chút thời gian để đặt câu hỏi và trả lời thành thật với chính mình "Đăng báo để làm gì? Why?". Nếu có nguỵ biện thì xin nguỵ biện với người khác, đừng nguỵ biện với chính mình.

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2020

Lại Bàn Về Trường Chuyên Lớp Chọn

Mấy ngày gần đây lại rộ lên thảo luận về trường chuyên lớp chọn, rất sôi nổi. Câu chuyện về chuyên chọn cứ vài năm lại rộ lên từ hàng chục năm nay rồi mà cuối cùng thì không bỏ được mà tình hình có vẻ xấu đi. 

Tỉnh thành nào cũng có trường chuyên và nhiều học sinh ở đó là con em quan chức tỉnh nhà. Có vẻ đó là hướng đi theo lẽ tự nhiên khi bố mẹ nào cũng muốn con mình có điều kiện học tập tốt nhất. Không cần thành lập thì cũng có "hội phụ huynh quan chức", giúp đỡ con mình và hỗ trợ nhau. "Con tớ và mấy đồng chí nữa sắp vào cấp 3, ta phải có dự án đầu tư mạnh cho cơ sở vật chất cho trường chuyên tỉnh nhà. Làm sớm đi, sắp tới còn con cậu nữa." Chả thế mà trường chuyên các nơi được nhiệt tình đầu tư với mác đào tạo nhân tài, càng dẹp lại càng thấy phát triển mạnh. Rồi các hoàng tử công chúa con lại quay vòng để trở thành các quan chức sau này. Rất tác hại. Đây là một hình thức tham nhũng tinh vi. Nhìn thử các học sinh được nâng điểm trong hai vụ Sơn La, Hoà Bình nhiều em từ những trường như thế ra cả.

Vậy có khi nên dẹp hết trường chuyên đi? Chả dẹp được nếu không phá vỡ cái logic đằng sau nó. Không chuyên thì cũng sẽ nẩy ra các hình thức khác để các quan chức lấy nguồn lực nhà nước đầu tư cho con em mình. Thế thì phải tìm cách phá vỡ cái logic đầu tư công bẩn đó để trường chuyên trở lại với mục đích tốt đẹp vốn có của mình. Một mặt phải coi đây là hình thức tham nhũng để Đảng ra tay, ông nào chạy chọt cho con mà bị phát hiện thì kể cả "không liên quan" thì cũng cứ áp kỷ luật Đảng. Pháp luật chính quyền còn cần bằng chứng này nọ khó hơn. Phải có cơ chế tuyển chọn chặt chẽ và công khai để học sinh vào học là do năng lực chứ không phải do quan hệ và kinh tế của bố mẹ. Cái này phải có cơ chế thống nhất từ bộ áp xuống chứ để các ông địa phương làm thì lại vừa đá bóng vừa thổi còi. Có thế hệ thống trường chuyên mới dần trở về với mục đích vốn có.

Dù có trở về được với mục đích vốn có. Nhiều ý kiến cho rằng đây là sự không công bằng nên dẹp quách nó đi. Giáo dục ta chỉ giỏi nuôi gà chọi. Gà chọi cũng quan trọng lắm chứ. Mỗi con người đều có những năng lực khác nhau. Cùng một mức học thì có người thấy quá khó cũng chán học, có người thấy quá dễ cũng chán học. Thế nên cần phải phân loại ra thì mới tạo ra môi trường cho học sinh phát huy được hết tiềm năng của mình. Việc phân loại theo học lực thì rõ ràng không nên bắt đầu ở cấp học dưới mà chỉ nên bắt đầu ở cấp 3 hoặc cùng lắm là cấp 2. Phân loại không có nghĩa là tập trung đầu tư cho một phía mà đầu tư cho mỗi nhóm theo những cách khác nhau. Công bằng không có nghĩa là cào bằng mà là tạo cơ hội tuỳ theo sở thích, năng lực, và quyết tâm của người học không phân biệt giàu nghèo hay nguồn gốc.

Mỗi một nước có những chính sách giáo dục khác nhau phù hợp với xã hội và điều kiện kinh tế. Mình giờ có thêm trải nghiệm với hệ thống giáo dục của Hà Lan vì hai đứa con nhà mình học ở đây. Nó cho mình một góc nhìn khác về giáo dục. Ở Hà Lan, mục tiêu đầu tiên cho trẻ con bắt đầu đi học là cho trẻ thích đến trường. Trẻ con bắt đầu đi học cấp một ngay sau sinh nhật 4 tuổi. Hai năm đầu học bằng cách chơi, không "nghiêm túc" tí nào. Trường cấp 1 nhỏ nhưng bố trí dày đặc quanh khu dân cư, ở thành phố thì trong bán kính 2 km thì chí ít phải tìm thấy một trường. 2 km quanh nhà mình có đến 4 trường tiểu học. Thế nên trẻ con các lớp lớn đều có thể tự đi học. Học cùng trường là vì nhà quanh đấy. Các trường đều không phải là trường nhà nước mà thường là của các tổ chức phi lợi nhuận. Nhà nước "đóng học phí" hộ bố mẹ cho các trường. Nên trường nhận kinh phí tỉ lệ theo đầu học sinh. Trường sẽ nhận được thêm một khoản cho các học sinh đến từ các gia đình mà bố mẹ bằng cấp thấp hay có những khó khăn trong việc học. Lý do là những học sinh này cần nhiều sự quan tâm dạy dỗ ở trường hơn. Trường cũng lo luôn sách vở bút giấy. Nhà giàu hay nghèo thì không thể hiện được gì ở trường. Mục tiêu là tạo cơ hội công bằng trong giáo dục cho trẻ em.

Cấp 1 thì không có lớp chọn nhưng các bạn học nhỉnh hơn thì sẽ được làm thêm sách nâng cao và hàng tuần được tách ra một buổi để học thêm những cái khác. Những bạn nào kém hơn một chút cũng được quan tâm phù đạo thêm. Mục đích là để các cháu thích đến trường, để từ đó thích học. Dậy kiến thức thì không nặng học nhiều lý thuyết cao siêu mà nặng kỹ năng và thực hành. Ví dụ, học toán thì cài vào học cách tiêu tiền. Học và thực hành luật giao thông ở ngoài đường. Trong việc dạy cụ thể thì các trường cũng khác nhau. Có nhiều triết lý giáo dục, các trường đều nói rõ họ theo triết lý giáo dục nào. Triết lý tự do nhất thì trẻ con đến trường được tự quyết định nhiều thứ, cả việc hôm nay học gì, cô giáo có nhiệm vụ chạy theo hướng dẫn thêm. Triết lý tự do không được nhiều phụ huynh chọn, mình đến thăm một trường như vậy trong quá trình chọn trường cho con, nhìn thấy trẻ con rất năng động, tự tổ chức lớp học, nhưng nó xa với cái căn Việt nam của mình quá nên không dám chọn. Các trường được chủ động cách dậy nhưng mỗi năm học sinh làm hai lần bài thi chuẩn quốc gia và kết quả được vẽ lên đồ thị. Đồ thị của con mình không đứng một mình là được đặt cạnh các đường tiêu chuẩn theo thông kê kết quả toàn quốc. Mình sẽ biết con mình nằm trong phân khúc nào trong cái thông kê này. Mỗi năm học sẽ cho 2 điểm trên đồ thị và mỗi môn là một đồ thị. 

Thầy cô cũng không chịu áp lực từ phụ huynh và nhà trường nên điểm thi tương đối trung thực. Mà thấp quá hay cao quá bất thường là có thanh tra đến ngay. Nếu thấp quá mà thanh tra xong có khi trường sẽ được đầu tư thêm. Việc ở lại lớp ở đây là bình thường. Có lần cô muốn con mình vào nhóm học nâng cao, cô phải viết thư hỏi xem phụ huynh có muốn cho con mình học nâng cao không, vì sẽ ít thời gian chơi hơn. Mình sống ở đây bao năm mà vẫn bất ngờ, tư tưởng của mình vẫn là đánh xuống thì mới phải bàn, còn đánh lên ai chả nhận. Thế mà ở đây có nhiều phụ huynh không muốn nhận. Quan điểm phụ huynh và xã hội ảnh hưởng rất nhiều đến hệ thống giáo dục. 

Ở đây không có họp phụ huynh đại trà mà chỉ họp riêng từng nhà, con nhà nào biết nhà nấy. Cứ nhớ hồi xưa bố mình đi họp phụ huynh về là rất sợ vì thường mình bị nhắc nhở nhiều. Giờ mình mới nhận ra đấy là hình thức "đấu tố" với cả phụ huynh và học sinh. Đồng nghiệp bạn bè cũng không bao giờ lôi chuyện con mình ra khoe hay hỏi về con người khác. Mọi người đều ý thức được rằng trẻ con có năng lực khác nhau và tốc độ phát triển khác nhau. 

Tuỳ năng lực học sinh (dựa vào điểm số các năm và đánh giá của thầy cô), học sinh sẽ được phân luồng ngay sau khi học xong cấp 1 (cấp 1 có 8 lớp). Có ba luồng chính là từ luồng học nghề, luồng đại học thực hành, và luồng đại học hàn lâm. Những bạn đi học nghề có khi 17 tuổi đã có thể đi làm, không phải phí thêm mấy năm học vô bổ. Học sinh sẽ phải vào 1 trong 3 luồng này theo kết quả học tập. Trong mỗi luồng sẽ có các nhánh nhỏ thì học sinh sẽ chọn tuỳ theo sở thích của mình. Việc phân luồng từ 12 tuổi cũng nhận được nhiều chỉ trích, chẳng hạn như có trẻ bộc lộ khả năng muộn, để giải quyết việc này thì việc chuyển luồng lên xuống có thể xảy ra tuỳ theo kết quả học tập ở các năm tiếp theo. Nhưng theo thống kê thì không nhiều.

Hệ thống giáo dục như vậy nhưng vẫn có nhiều phàn nàn chỉ trích. Một trong những chỉ trích thường được nói đến là học sinh kém chịu áp lực, sau này ra đời dễ bị stress. Phương Tây có một bệnh hay gặp trong lực lượng lao động gọi là burnout (bệnh tâm lý mất hết năng lượng và động lực làm việc). Mình vẫn hay nói đùa với đồng nghiệp tao hơi bị khó burnout vì có burnout thì tao đã bị từ khi thi đại học 1 chọi 10 ở Việt nam rồi. Việt nam chắc cũng có burnout ở học sinh và người lao động nhưng xã hội chưa để ý. Nhìn chung thì mình thấy mọi người ở đây đều thoải mái với con đường mình chọn vì họ hiểu năng lực của mình và họ thích những việc họ làm.

Việt Nam có một hệ thống giáo dục tốt so với trình độ phát triển, mình mài đũng quần 12 năm phổ thông và 5 năm ĐH ở Việt nam. Ra thế giới thì mình thấy mình cũng không kém gì. Những năm sau này thì mình thấy nhiều cái còn tốt hơn hồi mình học nhưng cũng có nhiều cái xấu đi. Mình sợ nhất khẩu hiệu "xã hội hoá giáo dục". Tinh thần thì đúng nhưng thực hiện thì theo kiểu nhà nước buông nhân dân mạnh ai nấy lo. Trẻ con nhà có tiền giờ tập trung vào một số trường. Học sinh cấp một học cùng nhau là do điều kiện kinh tế của bố mẹ như nhau. Cái này có nhiều cái xấu hơn là tốt. Trẻ con sẽ có cái nhìn hẹp hơn. Đi lên XHCN mà xã hội ngày càng phần lớp phân tầng trong giáo dục và y tế. Thế hình như là đi xuống.

Nhà nước nên tạo điều kiện cho xã hội tham gia nhưng khuyến khích các tổ chức phi lợi nhuận, tạo điều kiện về đất đai, mục tiêu cuối cùng là phải tạo cơ hội công bằng trong giáo dục cho trẻ em bất kể giàu nghèo, xuất thân, vùng miền. Chương trình thì tuỳ trường nhưng đánh giá thì thống nhất. Nhận thức của xã hội cũng sẽ tự dần thay đổi khi thấy rằng thành tích ảo thì sẽ lĩnh hậu quả nặng nề. Những học sinh điểm số giỏi mà ra đời vẫn dựa dẫm bố mẹ, xin việc cũng phải cậy nhờ, bằng cấp đầy mình nhưng  chẳng ai nhận, khổ mình, khổ bố mẹ, và khổ cả xã hội.


Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020

Giải Quyết Khâu Tức

Trên FB ầm ĩ câu chuyện một anh chàng truy tìm cô vợ, vừa mới cưới, bỏ đi theo trai. Anh chàng này nuôi cô gái từ khi còn học đại học. Đúng là "công anh bắt tép nuôi cò, cò ăn có lớn cò dò lên cây". Cô vợ giấu địa chỉ, chỉ muốn làm thủ tục chia tay nhưng anh chồng đăng FB nhờ cộng đồng truy tìm "đôi gian phu dâm phụ" để trả thù cho bõ tức. Nhiều người đồng cảm cùng anh chồng còn bày cách, tư vấn này nọ. Mình chả hiểu để làm gì, để giải quyết khâu tức?

Nếu chỉ để giải quyết khâu tức thì mình thấy mất thời gian công sức. Mình cũng chẳng xuất phát từ lòng từ bi hỉ xả gì. Mình chỉ nghĩ đơn giản như trong kinh doanh người ta gọi là "cắt lỗ". Để cắt lỗ, nhà đầu tư không nhìn vào quá khứ mà nhìn vào diễn biến tương lai. Dù anh mất hay được bao nhiêu trong quá khứ cũng không có ý nghĩa, mà quan trọng là nếu anh còn tiếp tục dính vào thì anh còn mất nữa. Thời gian tâm huyết đó, anh đầu tư vào việc tích cực thay vì để gánh nặng quá khứ đeo bám anh, nó đã làm hỏng quá khứ của anh và còn tiếp tục làm hỏng tương lai của anh. Có nhiều người phí cả cuộc đời chỉ vì chưa giải quyết được khâu tức, năng lượng của họ bị hút hết vào việc đòi lại "công bằng" trong vô vọng.

Ở góc độ cá nhân, nhiều lúc anh phải chấp nhận là cái thế gian này nó không công bằng. Anh có là dân oan mất đất, đi đòi mãi mà như nói với bức tường thì tốt nhất bỏ đi. Cùng thời gian công sức đó, anh làm lại có khi ra nhiều hơn cái đã mất mà cái tâm anh nó bình yên. Cuộc đời không công bằng trong đường ngắn, nhưng nó sẽ công bằng trong đường dài. Cái thằng nó lấy được của anh rồi có cũng phải trả lại, không cách này thì cách khác. Tất nhiên nếu anh muốn dành cuộc đời anh để làm cho xã hội công bằng hơn thì lại là chuyện khác. Nó ko phải là giải quyết khâu tức và đừng đấu tranh cho công bằng xã hội với tâm thế của một người bực tức. Tức giận có thể là nguồn cơn của việc thay đổi nhận thức để dấn thân, nhưng nó vô cùng nguy hiểm nếu không được bỏ lại đằng sau, bởi vì không một xã hội tốt đẹp nào có thể được xây nên bằng sự tức giận và sự hả hê.

Có những cái tức nhỏ, có những cái tức to. Mai là ngày 30 tháng 4, có nhiều người vui, có nhiều người vẫn tức. Mình hoàn toàn hiểu được sự bực tức đấy. Ai mà vì thằng khác mà mất nhà mất cửa thậm chí mất vợ mất con mà không tức mới lạ. Nói tức là còn nhẹ, phải nói là thâm thù. Tuy nhiên, mình chỉ mong rằng, những người còn tức ngộ ra rằng sự bực tức sẽ giam cầm quãng đời còn lại của họ. Hãy vì chính họ mà bỏ lại cái tức đằng sau như những nhà đầu tư thông thái biết cắt lỗ. Mình đã thấy nhiều người vui vẻ cắt lỗ và mình mong rằng số này sẽ tăng lên trước khi quá muộn.

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2020

Làm Tiến Sỹ: Hỷ Nộ Ai Ố

Đọc bài duyên nợ với Hà Lan, TS Dũng, ông anh chung KU (Korea University), "đặt hàng" mình viết về hỷ nộ ai ố trong quá trình làm tiến sỹ để cho sinh viên đọc. Hứa trả bằng phở nên khó từ chối.

Quá trình làm tiến sỹ của mỗi người là khác nhau, phụ thuộc nhiều vào văn hoá và tính cách của người hướng dẫn, của nhóm làm việc, và của nước sở tại. Rồi còn tuỳ ngành tuỳ đề tài. Quan trọng hơn là phụ thuộc vào tính cách và nhân cách của nàng (hay chàng) nghiên cứu sinh. Thôi cứ kể chuyện của mình, coi như là một ví dụ. Cuối bài mình sẽ gắng rút ra một số bài học cốt lõi mà mình tin là tương đối phổ quát.

Làm TS thường phải trải qua đủ hỷ nộ ai ố như một bộ phim. Mới vào thì hồ hởi phấn khởi, làm một thời gian thấy mông lung, không biết bắt đầu cuốc ở đâu. Thử cuốc thì cuốc mãi, mà không thấy gì (có lúc mừng hụt) trong khi thời gian trôi nhanh, bắt đầu khủng hoảng bế tắc. Rồi đến một ngày, nhát cuốc bập đúng mạch, cứ thế hăng say cuốc lộ dần kho báu. Gần hết phim là gói gém cắt gọt thành quyền luận án. Cũng có người bập vào mạch nhanh, thường là đi theo mạch của mình hay ai đó đã làm trước hoặc đề tài có mục tiêu cực kỳ cụ thể. Có người cuối cùng lần không ra, nhưng thường là do không dồn hết tâm huyết hoặc không tỉnh táo uyển chuyển.

Đề tài của mình nằm trong dự án lớn của EU về thông tin quang, consortium có 17 trường, viện, và công ty, toàn tên tuổi lớn trong ngành. Mình được GS đưa cho proposal của dự án, bảo nhóm mình phải phụ trách một số mảng, mày thì chịu trách nhiệm đóng góp cho phần truy nhập quang đa bước sóng. Lời sấm truyền mơ hồ quá, không khác gì bảo mày vào khu rừng này (ít nhất chỉ ra cho mình khu rừng), tìm cho tao cái gì đó hay hay (tao cũng ko biết là gì) mà phải là cái chưa thằng nào tìm ra. Quá nhiều tự do lại là một vấn đề lớn. Rất may tính mình thích tự do, tự lần mò nên cũng không quá ngợp.

Thời nay làm nghiên cứu cũng dễ hơn, ngồi một chỗ có thể đọc tài liệu khắp nơi, dễ kiếm dễ lấy. IP của trường mình có thể vào tất cả các thư viện online lớn trên thế giới vì trường đã mua cả gói. Vừa đọc vừa ngẫm ngợi 6 tháng cũng chưa biết mình cần giải quyết cái gì, làm ở lớp vật lý hay lớp logic, tín hiệu dữ liệu hay điều khiển. GS thì bảo khi nào có kết quả thì lên trao đổi còn không thì thôi, tao rất bận. Ông daily supervisor gài vào cho đủ bộ chứ mình nhìn vào background là mình biết không giúp gì được (được cái ông này cũng biết thế nên để mình tự do). Hỏi loanh quanh mấy ông postdoc thì mỗi người nói một kiểu. Có bố người Anh còn bảo mày mà không viết được báo thì tao giúp. Mình nghe vậy biết vậy, chứ làm TS mà không nắm vận mệnh mình trong tay thì làm làm gì. Tuy thế mình học được của bố người Anh một võ rất hay. Đừng nghĩ gì to lớn cao siêu cả, muốn có báo rất dễ, cứ đặt ra một bài toán nhỏ xíu thôi, miễn là thú vị, rồi giải quyết nó. Cũng không nhất thiết là hẳn ở trong đề tài, quan trọng là tận dụng được cái sẵn có xung quanh. Mình làm một phát, có tí thí nghiệm lớp vật lý, được nhận ở hội nghị tầm trung. Sau mở rộng dần đăng được đến Journal, nhưng mới chỉ gọi là nổ tạch tạch tè tè. Nhưng nó quan trọng là giải quyết được vấn đề tâm lý và học dần cách viết.

Không thấy có giấy trắng mực đen nào nói về tiêu chuẩn tốt nghiệp, hỏi thì GS trả lời mà như không. Nhìn những gương đi trước thì thường cũng phải có ít nhất 2 đến 3 con journal đầu ngành, hội nghị đầu ngành 3 bài, hội nghị khác không tính. Có một trường hợp cả biệt chả có con journal cũng tốt nghiệp (hy vọng của tôi đây). Muốn có 2 Journal lúc tốt nghiệp (chỗ mình làm 4 năm), thì phải submit con đầu tiên muộn nhất là đầu năm thứ 3 vì review nhanh thì 3 tháng, lâu thì gần năm, mà chắc gì đã được accept.

Mình loanh quanh đến cuối năm thứ 2 mới submit con journal đầu tiên, nhưng cũng chỉ là lấy ngắn nuôi dài vì giải quyết mấy bài toán nhỏ mà chưa thấy vừa vào bức tranh lớn nào cả. Mình cứ nghĩ mãi, trong cái khu rừng này thì mọi người quan tâm đến vấn đề gì nhất. Tăng dung lượng nhiều thằng làm rồi, tăng khả năng tái cấu hình cũng nhiều thằng làm rồi. Nhìn đâu cũng thấy dấu chân. Thấy có le lói ở chỗ là mạng truy nhập thì giá thành không thể cao được. Thế nên mình tập trung giải quyết vấn đề giá thành, tăng dung lượng, tăng khả năng tái cấu trúc mà giá vẫn phải không đổi.

Ngẫm ngợi hơn năm trời, trong lúc vẫn làm thí nghiệm lấy ngắn nuôi dài, mà chưa có giải pháp gì đột phá. Đến một hôm trong lúc mơ màng trong nhà vệ sinh thì bật ra (thật thế). Nôm na là đường 10 làn xe, thông thường các xe đi làn nào cũng được, làn nào đông thì nhảy sang làn khác. Nhưng chuyển đổi bước sóng mà nhẩy hết tất cả các bước sóng thì bộ thu phát đắt quá. Mình đề ra nguyên tắc là các xe chỉ được di chuyển trong một số làn nhất định, rồi dồn xe dây chuyền thì hiệu quả cũng giống như được chạy tất cả các làn. Nhưng khoa học thì không nói khơi khơi thế được. Phải chứng minh định lượng. Dùng toán học thì mình cũng chứng minh được là nếu một xe chỉ được di chuyển giữa 2 làn thì hiểu quả đã đạt được phần lớn, di chuyển trong 3 làn thì hiệu quả có tăng nhưng tăng không nhiều. Đại khái là hiệu quả sẽ tiếp cận dần đến 100% theo hàm số mũ. Các nhóm xe được chia tối ưu cho nhóm này móc vào nhóm kia, mình đề ra khái niệm cyclic-linked flexibility. Nhưng lý thuyết toán với mô hình lý tưởng là vậy, nhưng kiến trúc mạng và linh kiện thực tế thì như thế nào? những thông số không lý tưởng sẽ ảnh hưởng ra sao?

GS mình bận, ông thấy mình tự lực được nên không bao giờ hỏi han, chỉ khi nào có kết quả, thậm chí viết thành báo rồi mới gửi cho ông. Chỉ đi hội nghị với đi họp dự án là hay có thời gian cùng nhau. Đi ăn toàn phải chia tiền có dịp mình sẽ kể sau. Có một cậu đồng nghiệp bị cho nghỉ giữa chừng vì 2 năm không ra kết quả gì. Cậu này lúc nào cũng trông chờ được hướng dẫn kiểu phải mớm ý tưởng cho để làm. Một hôm GS mình hỏi, mày biết TS có nghĩa là gì không? Mình lắc, ông bảo trở thành TS là trở thành là một nhà nghiên cứu độc lập. Phải độc lập trong phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề. Ý kiến người khác chỉ là tham khảo.

Mình mất gần 2 năm miệt mài xây dựng thí nghiệm, hệ thống trộn lẫn giữa tín hiệu thực tế và mô phỏng điều khiển. Xin mua linh kiện máy móc, ngồi viết code, debug với niềm tin là kết quả sẽ khẳng định những gì mình phán đoán. Đốt mất 2 con tunable laser giá 4000E một con, những thứ hỏng lặt vặt khác không kể. Ấy thế mà đến lúc chạy xong kết quả ra không khớp với kỳ vọng. Báo thì đã lên khuôn chỉ cần đặt đồ thị vào là đẹp. Lúc này đã giữa năm thứ 3, chạy đi chạy lại thí nghiệm mà kết quả vẫn không theo hướng mình muốn.  Thời gian thì sắp hết, xoay sang thí nghiệm khác thì không kịp.

Một tuần liền như người mất hồn, đi ăn trưa với mấy đứa NCS khác, nghe chúng nó cười nói mà tai mình cứ ù đặc, chân tay lạnh toát. Mất một tuần ngoài thẫn thờ trong bão tố. Mình bỏ ra bờ suối ngay chân toà nhà làm việc ngồi cả buổi chiều (chắc thiên hạ tưởng mình thất tình). Tại sao mình cứ phải cần kết quả theo ý mình phỏng đoán? Lùi một bước, tự dưng trời lại quang mây lại tạnh. Kết quả như thế thì mình sẽ kể một câu truyện khác, hấp dẫn không kém gì, đâu nhất thiết phải đi theo mạch truyện đã định từ trước. Thế là mình tự kéo mình khỏi vũng lầy. Nhìn từ góc mới, kết quả có được lại quá hay. Kết quả negative không có nghĩa là không có giá trị, thậm chí giá trị cao nếu biết cách "tán". Bắt tay vào viết con Journal lớn đầu tiên, cốt lõi của luận án TS sau này. Rất hiếm khi có bài báo nào chỉ có kết quả mô phỏng mà đăng được trên Journal of Lightwave Technology. Bởi vì báo của mình không nặng trình bày kết quả mà kể một câu chuyện hấp dẫn.

Sau phát đại bác, mình nổ thêm đôi bài nữa. Đến đầu năm thứ 4 hỏi dò GS xem đã được viết luận án chưa. Ông cũng chỉ ậm ừ, bảo mày còn thời gian chứ không bảo thiếu hay đủ. Mình kệ, cứ bắt đầu viết sớm bên cạnh việc làm thí nghiệm (và ngó nghiêng tìm việc). Viết luận án thì cũng là kể truyện nhưng là truyện dài kỳ. Những kết quả mình làm được, giờ phải xâu chuỗi làm sao. Mình xoay vần mãi mới nghĩ ra mạch truyện. Những cái lấy ngắn nuôi dài thì gài vào đâu cho liền mạch. Cũng không thể tham, có gì bày tất ra, phải cất bớt đi, cỗ mới đẹp. Viết xong cái mục lục, gửi GS xem, cụ không chê không khen, thế là ok rồi. GS mình hướng dẫn mà như không hướng dẫn mới tài. Tuy thế mục lục ban đầu vẫn còn phải tinh chỉnh nhiều trong suốt quá trình viết. Mình cũng rút kinh nghiệm từ trước nên những kết quả đo đạc phủ đầy đủ các trường hợp, phần lớn chưa dùng đến vẫn cất đấy. Chứ đến lúc viết mà thiếu kết quả đo đạc, chạy lại thí nghiệm sẽ rất mất công, thậm chí là không thể. Ra bản nháp đầu tiên mất 5 tháng, vân vê thêm 4 tháng nữa mới hoàn thành. Hội đồng thành phần từ 4 nước khác nhau có đủ 3 tháng để đọc và nhận xét. GS mình quan hệ rộng và tốt, nên ông ấy đã gật thì cả làng cùng gật.

Lấy được chân kinh, mình ngộ vài điều.

Mình ngộ ra rằng, dù là một bài báo khoa học, mình phải kể một câu chuyên trôi chảy, có đưa đẩy, có thắt có mở. Những kết quả đo đạc thí nghiệm chỉ là những bằng chứng và là một phần của câu chuyện. Sau này đi review nhiều, mình càng thấm thêm. GS mình viết báo, vấn đề có xíu nghe rất thần thánh mà không bị lố tí nào. Dẫn truyện ra sao, claim gì claim ở mức độ nào, phê phán người, phê phán mình thế nào, viết một câu sao cho thoát ý là cả một nghệ thuật. Cứ tìm mấy bài của những cây đại thụ trong ngành mà học cách họ viết. Người giỏi bao giờ cũng siêu trong cách diễn đạt. Một sai lầm hay gặp phải là anh cứ say đắm với thí nghiệm và kết quả của anh, thế gian hình như chỉ có mỗi nó, đến lúc viết báo thì cứ lấy nó làm trung tâm. Làm thế cũng ra báo nhưng thí nghiệm và kết quả của anh phải rất mạnh hoặc báo letter 3 trang. Hơn nữa như thế rất "tốn" kết quả, dùng vừa còn dành viết bài khác.

Đọc vừa đủ, đọc quá nhiều làm đầu óc mình bị dính vào những lối mà người khác đã đi. Tốt nhất là đọc những bài ở Journal và hội nghị đầu ngành. Đọc để lấy big picture rồi mình tự nghĩ, rồi lại đọc, rồi lại nghĩ. Cũng không nên hoảng hốt vì cái gì mình định làm tra một lúc lại thấy có thằng làm rồi. Như thế có nghĩa là mình nghĩ đúng đấy, chỉ là sinh sau đẻ muộn thôi. Mà đừng tin hết những gì thằng khác viết. Luôn đặt câu hỏi.

Mình phải là người làm chủ con đường mình đi. Tất cả những lời người khác nói chỉ là giúp đỡ, tham khảo, kể cả GS. GS giỏi bao giờ cũng rất vui nếu trò chủ động và thậm chí không "nghe lời" mình nhưng biết cách giải thích. Tất nhiên điều này không có nghĩa là mình không cần đến ai cả.

Trong quá trình làm thì nên gần gũi thân thiện với mọi người, trong nhóm ngoài nhóm. Có những cuộc nói chuyện vu vơ bên cốc cà phê mà ra vấn đề. Nói qua nói lại, nhiều khi bật ra những ý hay. Trong thí nghiệm mình đang dựng, mình cần điều khiển bật tắt cực nhanh con chip khuyếch đại quang. Chưa biết làm thế nào. Đi mua mạch có sẵn thì không có, tự thiết kế hoặc nhờ thiết kế thì đến bao giờ. Nói chuyện vu vơ với ông GS khác trong nhóm, ông bảo tao có cái mày cần. Rồi mình làm thí nghiệm thì cần linh kiện, thiết bị, đến lúc deadline thì ai cũng cần. Quan hệ tốt là một chuyện, những cũng cần phải có qua có lại. "Kho" của mình có một số món độc mà thiên hạ cần. Trong nhóm mình có mấy cậu người Tàu, tạo thành một nhóm kín đưa linh kiện, thiết bị cho nhau. Mọi người biết thế hay kêu. Mình chả kêu, mình chơi luôn với mấy ông Tàu. Mình chả ghét ai đâm ai cũng quý. Mình giúp nhiều người vô tư, đến lúc cần lúc nào cũng có người sẵn sàng giúp. Quan hệ tốt quan trọng lắm, cho công việc và cho cả việc mở rộng hiểu biết cuộc sống và các văn hoá khác nhau.

Làm TS, đi hội nghị là vui nhất, nhóm mình hội nghị đầu ngành mà được accept là nghiễm nhiên được đi. Muốn đi chơi Mỹ thì cứ chịu khó có bài là đi. Đi hội nghị tranh thủ đi chơi những vẫn không quên nhiệm vụ. Mà hội nghị chủ yếu là để gặp và trao đổi chứ còn đọc bài báo thì ở nhà đọc vào hơn. Vượt qua ngại ngùng, mình thấy cần là hỏi. GS mình cũng hay hỏi, nhiều lúc thầy trò thay nhau chiếm mic. GS mình có tiếng trong ngành nhưng vẫn hỏi nhiều câu nghe thì "ngô nghê" nhưng chả vấn đề gì, thực ra nó xoáy vào những cái mà mọi người không nghĩ đến. Poster presentation cũng là chỗ tốt để trao đổi, có nhiều cái hay bật ra từ những cuộc trò truyện như vậy. Nhiều khi đi hội nghị về, thấy mình sao lười và nghĩ hẹp thế, bắt đầu có cảm giác "sense of urgency", thế là có động lực thức khuya dậy sớm.

Trong lúc khủng hoảng, mình đã phải đấu tranh rất nhiều. Chỉ cần đổi vài thông số đầu vào, nắn đường cong một chút là mình có kết quả đẹp như mơ ngay. Hay mình làm thế nhỉ? Đó cũng là một lối thoát. Cái khôn lỏi trong anh chàng người Việt cứ tỉ tê, bước đường cùng rồi nhích đi, chỉ mình biết và cái máy tính biết. Nhưng trong lúc cùng quẫn nhất, mình nhớ lại những gì các thầy đã dạy, GS Hân, GS Park, GS Koonen, rồi cả bố mình (đời mình may gặp toàn sư phụ tốt). Khoa học kị nhất gian dối, anh có thể có một bài báo đẹp nhưng anh sẽ không bao giờ xây dựng được một hệ thống chạy thật. Ừ thì anh chỉ cần báo để tốt nghiệp, nhưng anh đã đánh mất tư chất của một nhà khoa học, thì sau nay anh sẽ trượt dài theo nó. Trung thực mà vẫn tìm ra lối thoát sẽ làm anh trưởng thành hơn, đừng từ bỏ dễ dàng. Giữ được niềm tin trong lúc mọi thứ chống lại nó mới thật sự gọi là giữ. Con đường đó sẽ nhiều chông gai, dường như vượt quá khả năng của anh, nhưng khi vượt qua được sẽ có nhiều hoa thơm trái ngọt và nó bền vững. Quan trọng hơn là anh vượt qua được chính mình và thoát ra với một bản ngã hoàn thiện hơn. Còn gì hạnh phúc hơn những giây phút như vậy. Mình càng thấm thía tại sao cuối lễ bảo vệ ở Hà Lan, chủ tịch hội đồng luôn có một bài dài nhắc nhở với tân TS về sự chính trực (integrity).

Lấy được kinh

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2020

Tiến Sỹ: Thường Thôi

Hôm nọ nói chuyện đi làm tiến sỹ, nhiều người khen giỏi, mình lại thấy rất thường.

Ở góc độ cá nhân, cuộc đời đã đi vào cái ngõ này rồi thì trên đường gặp ai cũng là TS. Có lần đi chuyển nhà giúp cho ông anh, hai vợ chồng chủ nhà đều là TS, 5 ông cửu vạn thì 4 ông TS, 1 ông sắp TS. Chỉ có cháu bé con chủ nhà mới biết đi chưa kịp làm.

Bố mình là GS TSKH, khách đến chơi nhà từ bé cũng toàn tiến với lùi. Khu Bách Khoa ngày xưa, nghe tiếng kẻng thì toàn TS quần đùi may ô xách xô đi đổ rác. Gần chùa gọi bụt bằng anh. Bố mình giờ chỉ cần được giới thiệu là nhà thơ, còn GS TSKH chỉ là phương tiện để nuôi ông nhà thơ và vợ con ông. Cũng may còn kiêm thêm GS TSKH không có thì vợ con ông cũng rách như gia quyến ông Tản Đà.

Sau này lấy vợ mới phát hiện bố vợ cũng lại là TS còn cho còn phá (CCCP) như bố đẻ. Mình hay đùa với con gái là con được đúc ra từ ông nội TSKH, ông ngoại TS, bố TS, những đối tượng còn lại thì chê TS làm mất thời gian. Nó bảo sau này con cũng làm TS. Bố thì chỉ mong con thích những việc mình làm. Xung quanh mình nồng độ TS hơi cao. Cái chuyện "đầu đường đại tá bơm xe, giữa đường trung tá bán chè đỗ đen" với mình chuyển thành "trên nhà TS ru con, dưới nhà rửa bát lại là GS".

Gia cảnh như vậy nên mình có là TS thì cũng rất thường. Mình có anh bạn bố nghiện rượu, nhà vách đất nghèo nhất tỉnh Phú Thọ mà thành TS, mà là loại TS khủng có tiếng trong ngành, dậy trường top10 thế giới. Cũng chả đâu xa, bố mình mẹ mất sớm, lớp 9 mới nhìn thấy bóng điện, sáng đập đất đèn, tối còn bay bổng với đại số mới. Những người như vậy ý chí họ lớn lắm. So với họ thì mình mới đi dăm bước chân đã thành TS. Mà là TS nửa mùa, nửa còn làm nghề, nửa chuyên đi bốc phét. Thế nên thường không nhớ mình là TS. Giám đốc công ty thỉnh thoảng lại chào đểu là đốc tờ Tran đi đâu đấy (ông này cũng là TS vật lý, dạy ở CalTech rồi nhưng bỏ về mở công ty), mình đùa lại là ông nhắc tôi mới nhớ.

Ông GS hướng dẫn TS mình là người rất nổi tiếng trong giới, fellow này nọ những không phải là TS, ấy thế mà đẻ ra toàn TS. Có người giỏi họ chả cần danh TS kể cả theo con đường khoa bảng. Ở rất nhiều nước không có giấy trắng mực đen nào đòi GS phải là TS.

Góc độ cá nhân là vậy còn ở góc độ chung thì TS trên thế giới bây giờ quá nhiều không như hồi xưa. Mà mình mới đang tính đến loại TS làm thật chứ chưa tính loại TS tại chức. TS đào tạo ra không theo nhu cầu mà là theo năng lực sản xuất. Cái gì cũng có căn nguyên của nó. Để làm các dự án nghiên cứu khoa học ở trong các trường đại học thì cần phải thuê người. Giờ thuê loại nào là rẻ nhất và tốt nhất? Thuê ngay ông thạc sỹ, trả bằng lương kỹ sư mới ra trường hoặc thậm chí thấp hơn. Ông này làm việc rất hăng vì ông có chút đam mê với cả phải đủ thành tích thì mới có bằng. Cũng chẳng sợ ông bỏ đi đâu khi chưa bảo vệ. Thuê kỹ sư làm như ngoài công ty thì tiền đâu mà trả bằng công ty được hay thuê mấy ông postdoc (TS rồi nhưng chưa tìm được việc lâu dài) thì các ông nhấp nhổm có chỗ nào ngon là té.

Thế nên TS trong một chừng mực nào đó là sản phẩm phụ của việc thực hiện dự án trong trường đại học và viện nghiên cứu. Mà dự án bây giờ nhiều. Cung vì vậy đôi lúc vượt quá cầu. Tất nhiên quá trình làm dự án cũng là một quá trình đào tạo rất thực chất, phải sáng tạo ra cái mới, đào luyện con người có tư duy độc lập. Nếu sau không theo đuổi nghiên cứu nữa thì trình độ tư duy cũng được phát huy ở những lĩnh vực khác.

Với mình thành TS cũng chỉ là một cột mốc trên con đường mình theo đuổi những cái khác. Chưa bao giờ nó là mục đích phải nhăm nhăm đạt được, nên mình thấy cũng không có gì to tát và chắc nhiều người cũng thế. Như lời bố mình vẫn bảo: "TS thì mới chỉ là bắt đầu thôi".

Làm thí nghiệm đâu khoảng năm 2010

Bàn làm việc những ngày trước khi bảo vệ đầu 2013

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

Duyên nợ với Hà Lan

Hôm nay đi đổi bằng lái xe, 10 năm phải đổi một lần, tưởng là lâu hoá ra nhoáng một cái là hết. Đã hơn chục năm loanh quanh ở Hà Lan. Thi thoảng vẫn có người hỏi sao mày lại mò được đến đây. Mình vừa đùa vừa thật nói là do Google.

Hai năm ở Hàn Quốc về, mình cũng không có ý định đi đâu nữa. Ở Việt Nam làm cho Panasonic R&D cũng nhiều cái thú vị. Chuyện vào Panasonic cũng lại rất tình cờ. Đi hội nghị gặp một cậu người Sing làm cho Panasonic R&D Singapore, cậu nói chuyện Panasonic mới mở một phòng thí nghiệm ở Hà nội. Mình thấy hay, trước giờ hay nghe đến FDI mở nhà máy chứ ít khi nghe thấy mở phòng nghiên cứu. Xem trên mạng thì thấy hết đợt tuyển rồi những vẫn nhờ cậu người Sing là mày viết cho tao cái thư kết nối. Gửi email hồ sơ, mấy hôm sau được mời đến phỏng vấn ngay và luôn, chả chuẩn bị gì. Lần đầu tiên nghe người Nhật nói tiếng Anh, bác tổng giám đốc hỏi "Do you have any question?" mà nghe đến mấy lần mới ra được chữ "quét si ôn". Vừa về đến nhà thì chị Vân làm tổ chức đã gọi điện offer tuần sau đi làm, lương tính bằng đô nên mình gật luôn. Đời mình cứ thấy đâu hay là tự xông đến.

Làm cho Panasonic một thời gian mình học được nhiều nhưng bắt đầu thấy lấn cấn. Nhìn chế độ đãi ngộ của công ty với nhân viên người Nhật và người Việt, mình có cảm giác như là công dân hạng hai. Vị trí của mình nằm kẹt giữa mấy bác Nhật và khối kỹ sư Việt Nam nên có điều kiện quan sát. Cảm giác của mình vậy thôi chứ đồng nghiệp Nhật đều rất lịch sự và thân thiện. Sang Nhật công tác mình mới ngộ ra rằng, những kỹ thuật gốc thì họ giữ lại ở Nhật, những việc kỹ thuật thấp hơn nhưng tốn nhân lực, họ sẽ đẩy sang Việt Nam như một cách giảm chi phí. Mình khó có thể học được cái gì từ đầu đến cuối ở đây, sau lại như thầy bói xem voi. Trong đầu mình bắt đầu nhen nhóm ý định đi làm tiến sỹ. Một phần nữa là mình thấy đường học của mình có vẻ chưa xong.

Trao đổi với gia đình thì bố bảo tuỳ mày nhưng nếu có đi thì phải đưa được vợ con đi cùng (con lúc này còn trong bụng mẹ). Bố mình có quan điểm thế: tao cung cấp thông tin, mày tự quyết tự bơi, sướng khổ tự chịu, khi nào chết đuối tao cứu. Thế là ngày đi làm, tối về Google, rồi lọ mọ làm hồ sơ. Thời mình Internet đã phổ biến nên cũng dễ. Nhắm đi Mỹ và châu Âu. Mình cứ vào Wikipedia xem danh sách các trường đại học ở một nước, rồi vào website từng trường, đánh giá về trường, xem thông tin về lab và các vị trí đang tuyển. Bắt đầu bắn tỉa. Sau độ 1 tháng thì có phản hồi đầu tiên. Thi thoảng cứ đến tối là có cuộc phỏng vấn qua điện thoại. Dính phát đầu tiên là trường Memphis ở Tennessee Mỹ, nhưng học bổng có 1200 đô, không đủ đưa gia đình đi nên mình im chưa trả lời. Chalmers, Thuỵ Điển phỏng vấn xong thì bị từ chối vì họ cần người có kinh nghiệm thực tế về vật lý laser, mà mình thì ngoài cái bút laser chưa sờ đến thứ khác bao giờ. TU Eindhoven phỏng vấn điện thoại xong, mời sang Hà Lan phỏng vấn, họ trả tiền. Vì vướng lịch đi Nhật tháng 12, nên phải lùi lại cuối tháng 1 năm 2009 vì đầu tháng thì bên Hà Lan đi nghỉ chưa về. Đâm ra trễ mất gần 2 tháng. Đầu Hà Lan có vẻ không muốn đợi.

Đúng chiều thứ 4 mùng 3 tết xách ba lô lên đường. Vì muốn ăn đủ 3 ngày tết nên phải bay hơi lòng vòng, do không có chuyến bay từ Hà Nội sang Châu Âu vào thứ 4 (hẹn sáng thứ 6 phỏng vấn, hẹn thứ 6 cũng là có "âm mưu" của nó vì hội đồng thường sẽ dễ tính hơn), phải bay vào Sài Gòn, sang Frankfurt, rồi mới đến Amsterdam. Vào Sài Gòn đợi 5 tiếng còn tranh thủ thăm ông anh họ. Tết nhất bận, chẳng chuẩn bị gì, lên máy bay sang Frankfurt mới bắt đầu ôn bài, làm slide trình chiếu. Tính mình vẫn hay cao bồi chủ quan thế. 4 giờ chiều thứ 5 (10 giờ tối giờ Hà Nội) mới đến được khách sạn. Mệt quá đánh một giấc, tỉnh dậy đã 9 giờ tối. Xuống lễ tân hỏi cách vào mạng để báo tin về nhà thì chẳng thấy ai. Chạy ra phố định kiếm quán cafe Internet thì vắng như chùa bà đanh. Quê hơn cả Mù Căng Chải. Đành quay về, may vẫn còn ít đồ ăn thủ ở trên máy bay.

Sáng hôm sau mò lên phỏng vấn, hội đồng 5 đồng chí. Chiến thuật của mình là tấn công chủ động, lùa địch vào bẫy. Xin phép được trình bày những kết quả nghiên cứu mà mình đã làm. Gài mấy chỗ cho mọi người hỏi. Thế là phần lớn thời gian trao đổi loanh quanh thứ mình đã làm, mà mình làm thì mình thạo nhất rồi. Một bác tên là Eduward dẫn đi xem lab, 2 tầng liền, nhiều máy móc, dây dợ. Bác này cũng tranh thủ kiểm tra mình. Chỉ vào cái máy hỏi mình là máy gì (hồi xưa ở Hàn, lab cũng có nhiều máy, nhưng không làm thí nghiệm lớp vật lý bao giờ nên mình chả biết gì). Mình bảo để tao nhìn lại, ở đây hơi tối. Mình biết là máy gì thì thường cũng có tên ở góc của bảng điều khiển, mình đọc ngay "optical spectrum analyser", mình "thật thà" là hãng này tao chưa dùng bao giờ (thực ra là hãng nào thì cũng thế). Eduward gật gù rồi dẫn đi ăn trưa. Lúc ăn trưa cứ hỏi dò xem mày có apply ở đâu nữa không. Mình bảo là có nhưng tao thích vị trí ở đây nhất (phét thế).

Thế là xong phỏng vấn, chiều thứ 7 mới bay về. Mình đã liên hệ trước với cậu Phú đang làm thạc sỹ ở đây. Cậu Phú dẫn mình đi loanh quanh giới thiệu cuộc sống ở đây, rồi dẫn sang nhà chị Trang. Chị Trang cũng sang đây theo chồng làm PhD. Gặp đúng người, vì mình đang muốn tìm hiểu cuộc sống gia đình có con nhỏ. Chị bảo không phải lo, sống tốt, chị bầu ở Việt nam rồi mới sang đây đẻ. Thế thì cứ theo dấu chân phía trước mà đi thôi. Sáng thứ 7 chị còn dẫn đi mua sắm, tranh thủ mua bình sữa với bỉm, ra chợ ngoài trời họp vào mỗi thứ 7 xem người ta bán gì. Xem một vòng thì mình càng thấy yên tâm cho vợ con sang đây. Đi đâu cũng chụp ảnh để về thuyết phục vợ sang đây đẻ. Trường chưa trả lời nhưng mình hơi có niềm tin.

Chiều thứ 7 ra sân bay, vì chiều đi có mỗi một cái ba lô nên chiều về mang giúp cho anh Hoá (mới gặp ở nhà chị Trang) một valy quần áo gửi cho trại trẻ mồ côi (may anh không gửi bột gì về). Bay về đến Nội Bài là 6 giờ sáng thứ hai, là ngày đi làm lại đầu tiên sau tết ở Panasonic. Trên taxi về nhà mới gọi cho công ty xin phép đến muộn một tiếng. Về nhà rửa ráy, chạy lên công ty mới 9 giờ. Bảo em vừa mới đi Hà Lan về, mọi người không tin (sáng thứ 4 tuần trước vẫn còn đi chơi nhà nhau). Lần sau đến muộn một tiếng thì lấy lý do hỏng xe là được rồi.

Mấy hôm sau nhận được email, đầu tiên báo rất tiếc là có ứng viên phù hợp hơn nên nó được nhận. Sau này mới biết là cái đứa được mời vì mình không sang ngay được (tưởng đi câu hoá ra mình lại là cá). Đoạn sau mới trình bày là mày có background rất phù hợp với vị trí khác. Vị trí này mở hơn một năm không tìm được người phù hợp vừa mới đóng. Giờ mở lại mà mày apply thì bọn tao nhận. Mình thấy vị trí mới còn thích hợp hơn nên đồng ý luôn. Cái này đúng là duyên.

Lúc này bắt đầu mới từ chối Memphis và NTNU bên Na Uy. Na Uy nhiều tiền hơn nhưng mình ngại lạnh mà chưa sang tận nơi nên chưa rõ cuộc sống thế nào. Còn mấy mối nữa chưa chung cuộc nhưng cũng thôi. Ở Hà Lan làm tiến sỹ được ký hợp đồng lao động làm nghiên cứu viên 4 năm, có lương hưu, đóng thuế đàng hoàng, không phải học bổng. Lương đút túi đủ nuôi vợ con, ngoài ra còn trợ cấp trẻ con với giảm trừ gia cảnh các loại, năm 40 ngày phép.

Báo với Panasonic thì bác tổng mời đến nhà ăn cơm, thuyết phục ở lại. Nhưng mình đã quyết rồi. Bác còn sai cả thuyết khách, một anh TS người Nhật. Vào phòng thuyết khách bảo tao biết là không lay chuyển nổi mày vì tao từng thế, thôi cứ ngồi nói chuyện chơi để bác tổng nhìn thấy. Sau này đi bác còn tặng một tượng thần may mắn, mình giờ vẫn giữ.

Chốt đi Hà Lan nhưng mình xin GS cho bắt đầu vào tháng 6 vì vợ tôi tháng 5 dự kiến đẻ mà vợ tôi không chịu sang Hà Lan đẻ. GS bảo mày cứ sang đầu tháng 4 mà nhận việc, nghỉ chỗ cũ rồi thì không có lương, sang đây ký hợp đồng có lương rồi tao cho về. Mình thấy GS sao tốt quá thế (có khi sợ mình chạy). Sau này thì mới biết là GS cũng tốt vừa thôi. Vì tiền dự án châu Âu mà không thuê người thì cũng không được lấy về. Mà trường lấy về 10 đồng, thì chi cho nhân sự cụ thể chắc chỉ 4 đồng. Ngoài tiền vé máy bay đi lại mấy lượt (cả lượt về vợ đẻ), trường còn có gói chuyển nhà. Có hoá đơn thì được thanh toán theo hoá đơn mà không có hoá đơn thì được một cục 1500EUR. Mình có gom hết hoá đơn cũng chả đến số đấy mà lại mất công nên xin nhận một cục.

Thú thật là trước khi sang đây thì mình cũng không có khái niệm yêu ghét gì Hà Lan. Nếu nói chọn sang đây là do yêu thích Hà Lan thì hơi bốc phét. Nhưng càng ở lâu lại càng yêu đất nước con người Hà Lan, nhất là khí hậu. Cái duyên nợ với Hà Lan nó bắt đầu như thế.

 Đợi ở sân bay Frankfurt
Khảo sát ở chợ ngoài trời