Thể loại

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2020

Nữ Nhi Tình

Trong Tây Du Ký, Trần Huyền Trang, Đường Tăng, phải trải qua 81 kiếp nạn mới lấy được chân Kinh. Thành chính quả không bởi vì đọc được chân Kinh mà vì những gì đã ngộ ra sau mỗi kiếp nạn. "Kiếp nạn" ở Tây Lương Nữ Quốc có vẻ là khó vượt qua nhất, Đường Tăng bản lĩnh cao cường, ấy vậy mà trước vẻ đẹp của nữ vương, mắt nhắm chặt, miệng niệm Phật mà mồ hôi vã ra như tắm. Chứng tỏ là tâm can đã không còn giữ được tĩnh lặng, một sự đấu tranh gay gắt đang diễn ra. Mắt mở thì chưa chắc đã thoát được "nạn" này. Đúng là anh hùng không sợ yêu quái, chỉ sợ mỹ nhân.

Dưới đây là bài thơ dựa theo ý bài hát Nữ Nhi Tình nói lên tâm sự của nữ vương. Sắp tới sẽ ra mắt bài Anh Hùng Chí là lời đáp của Đường Tam Tạng.


Uyên ương đôi bướm lả lơi

Vườn xuân sắc thắm hai người lầu văn 

Thẹn thùng xin hỏi thánh tăng

Người đây cảnh đấy đẹp chăng mắt ngài 

Vương quyền phú quý chẳng hoài

Thanh quy giới luật bỏ ngoài vườn xuân

Kiếp này xin một đặc ân 

Tu hành đổi áo minh quân ngai vàng

Thiếp xin trọn kiếp yêu chàng

Uyên ương thiếp thiếp chàng chàng bên nhau





Thứ Năm, 30 tháng 7, 2020

Mô Hình Kinh Doanh Trong Xuất Bản Báo Khoa Học

Gần đây có nhiều thảo luận về các tờ báo săn mồi (predatory journals), nhiều tên tờ báo cụ thể được đưa ra, tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi từ phê phán gay gắt đến bảo vệ bằng được. Mọi thứ tồn tại đều có logic của nó, tôi muốn đề cập đến cái logic đằng sau này thay vì tập trung vào những tờ báo cụ thể. 

Làm nghiên cứu phát triển ở công ty, cho tôi cách nhìn của một "con buôn", mọi thứ đều là một thương vụ (everything is a business case). 

Mô hình xuất bản báo truyền thống là người đọc phải trả tiền, trả qua từng bài báo hay thuê bao. Thông thường các trường, viện nghiên cứu, và công ty lớn ở các nước phát triển đều trả tiền thuê bao hàng năm cho các thư viện lớn. Máy tính từ mạng nội bộ của các tổ chức này sẽ được quyền truy cập vào kho thư viện. Những trường viện và công ty tôi từng làm việc kể cả Panasonic R&D ở Việt Nam đều có thể truy cập IEEE Explorer, là một thư viện lớn tập trung hầu hết tờ báo uy tín trong ngành điện điện tử. Phí thuê bao là nguồn thu nhập chính của các báo khoa học, nó đến từ nguồn chi thường xuyên của các tổ chức nghiên cứu. Trong một thời gian dài đến đầu những năm 2000. Các tổ chức rất rộng rãi trong việc thuê bao, nhưng khi có khủng hoảng kinh tế, mọi chí phí đều bị cắt giảm. Chỉ có thuê bao với những thư viện uy tín là được giữ lại, còn lại bị cắt hết. Các tờ báo kém uy tín phải tìm cách thay đổi mô hình kinh doanh, nếu không sẽ chết. 

Mô hình truy cập mở (open access) được ra đời từ khá lâu, với mục tiêu ban đầu rất trong sáng là muốn phá bỏ rào cản (trả tiền để truy nhập) trong việc tiếp cận kiến thức. Ban đầu mô hình này được phát triển khá khiêm tốn nhưng nở rộ mạnh mẽ trong chục năm trở lại đây. Nhiều người đã nhận ra đây là một mô hình kiếm tiền rất tốt. Thay bởi vì người đọc phải trả tiền thì người đăng phải trả tiền. Thay vì hút tiền từ ngân quỹ chi thường xuyên đang teo dần thì cái vòi hút chọc trực tiếp vào ngân quỹ của các đề tài khoa học (tác giả không ai bỏ tiền túi ra mà đều lấy từ ngân quỹ của các dự án). Mà ngân quỹ của các dự án khoa học, nhất là các dự án được ngân sách nhà nước tài trợ, rất lớn và tăng rất nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển mạnh. 

Đấy mới chỉ là bên vế cung, vế cầu cũng phải lớn thì mô hình này mới phát triển mạnh như vậy. Những nước chập chững làm khoa học đều dựa nhiều vào số lượng bài báo để đánh giá thành công của đề tài khoa học có nguồn tài trợ công. Thế là nhà nhà người người tìm cách đăng báo, nhanh nhiều tốt rẻ. Có nhiều báo là dự án thành công, có nhiều báo là có học hàm học vị, có nhiều báo là sẽ nhận được nhiều tài trợ hơn, quá nhiều cái lợi. Mục đích tối hậu của dự án là có báo đăng? Thế nên có cầu ắt có cung, nhiều tờ báo săn mồi ra đời. 

Chưa tính đến những tờ báo mang những tên lạ hoắc. Thử nhìn vào những chỗ rất uy tín như Nature Communications của Springer, đặt một vài phép tính nhanh để thấy lợi nhuận ra sao. Đăng một bài báo ở đây khoảng $4000,  năm 2019 có tổng cộng 55233 bài, doanh thu như vậy là khoảng $220 triệu.  Chi phí để vận hành bộ máy thì không đáng là bao, thuê vài máy chủ là đủ hạ tầng, reviewers thì thường là tình nguyện, chi phí lớn nhất là trả những mức lương khủng cho ban điều hành. Mô hình kinh doanh siêu lợi nhuận. Thế nên có những nhà xuất bản lạ hoắc cũng kiếm ăn theo cách dù không bộn tiền như Springer. Do đó đã có nhiều lời kêu gọi tẩy chay open access. 

Nhiều công ty cấm đăng báo ở open access và nhiều trường viện lớn đều không khuyến khích. Thực tế mỗi ngành đều có một vài tờ báo đầu ngành. Nếu ông nào nghiên cứu nghiêm túc, có chất lượng thì cứ chỗ đấy mà đăng việc gì phải đăng ở open access cho tốn tiền. Chả phải lý luận loanh quanh, chẳng qua là những chỗ đấy nộp nó mới nhận, nó nhận bài để lấy tiền thì nó chối làm gì. Đó là logic lợi ích hiển nhiên.

Thế nên những thư mời đăng báo từ nhà xuất bản lạ hoắc là tôi cho vào ngay spam, thư mời review hay làm editor cho open access lạ là tôi cũng reject luôn, không tiếp tay.

Cũng phải nói cho công bằng là vẫn có những tờ open access nghiêm chỉnh, muốn biết nghiêm chỉnh hay không thì xem có hiệp hội nghề nghiệp uy tín nào đứng đằng sau, ai trong ban editors, ai đăng báo ở đấy, chất lượng bài đã đăng thế nào, thu phí thế nào, có hoạt động phi lợi nhuận không, v.v. 

Với những bạn mới làm khoa học, các bạn bỏ chút thời gian để đặt câu hỏi và trả lời thành thật với chính mình "Đăng báo để làm gì? Why?". Nếu có nguỵ biện thì xin nguỵ biện với người khác, đừng nguỵ biện với chính mình.

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2020

Lại Bàn Về Trường Chuyên Lớp Chọn

Mấy ngày gần đây lại rộ lên thảo luận về trường chuyên lớp chọn, rất sôi nổi. Câu chuyện về chuyên chọn cứ vài năm lại rộ lên từ hàng chục năm nay rồi mà cuối cùng thì không bỏ được mà tình hình có vẻ xấu đi. 

Tỉnh thành nào cũng có trường chuyên và nhiều học sinh ở đó là con em quan chức tỉnh nhà. Có vẻ đó là hướng đi theo lẽ tự nhiên khi bố mẹ nào cũng muốn con mình có điều kiện học tập tốt nhất. Không cần thành lập thì cũng có "hội phụ huynh quan chức", giúp đỡ con mình và hỗ trợ nhau. "Con tớ và mấy đồng chí nữa sắp vào cấp 3, ta phải có dự án đầu tư mạnh cho cơ sở vật chất cho trường chuyên tỉnh nhà. Làm sớm đi, sắp tới còn con cậu nữa." Chả thế mà trường chuyên các nơi được nhiệt tình đầu tư với mác đào tạo nhân tài, càng dẹp lại càng thấy phát triển mạnh. Rồi các hoàng tử công chúa con lại quay vòng để trở thành các quan chức sau này. Rất tác hại. Đây là một hình thức tham nhũng tinh vi. Nhìn thử các học sinh được nâng điểm trong hai vụ Sơn La, Hoà Bình nhiều em từ những trường như thế ra cả.

Vậy có khi nên dẹp hết trường chuyên đi? Chả dẹp được nếu không phá vỡ cái logic đằng sau nó. Không chuyên thì cũng sẽ nẩy ra các hình thức khác để các quan chức lấy nguồn lực nhà nước đầu tư cho con em mình. Thế thì phải tìm cách phá vỡ cái logic đầu tư công bẩn đó để trường chuyên trở lại với mục đích tốt đẹp vốn có của mình. Một mặt phải coi đây là hình thức tham nhũng để Đảng ra tay, ông nào chạy chọt cho con mà bị phát hiện thì kể cả "không liên quan" thì cũng cứ áp kỷ luật Đảng. Pháp luật chính quyền còn cần bằng chứng này nọ khó hơn. Phải có cơ chế tuyển chọn chặt chẽ và công khai để học sinh vào học là do năng lực chứ không phải do quan hệ và kinh tế của bố mẹ. Cái này phải có cơ chế thống nhất từ bộ áp xuống chứ để các ông địa phương làm thì lại vừa đá bóng vừa thổi còi. Có thế hệ thống trường chuyên mới dần trở về với mục đích vốn có.

Dù có trở về được với mục đích vốn có. Nhiều ý kiến cho rằng đây là sự không công bằng nên dẹp quách nó đi. Giáo dục ta chỉ giỏi nuôi gà chọi. Gà chọi cũng quan trọng lắm chứ. Mỗi con người đều có những năng lực khác nhau. Cùng một mức học thì có người thấy quá khó cũng chán học, có người thấy quá dễ cũng chán học. Thế nên cần phải phân loại ra thì mới tạo ra môi trường cho học sinh phát huy được hết tiềm năng của mình. Việc phân loại theo học lực thì rõ ràng không nên bắt đầu ở cấp học dưới mà chỉ nên bắt đầu ở cấp 3 hoặc cùng lắm là cấp 2. Phân loại không có nghĩa là tập trung đầu tư cho một phía mà đầu tư cho mỗi nhóm theo những cách khác nhau. Công bằng không có nghĩa là cào bằng mà là tạo cơ hội tuỳ theo sở thích, năng lực, và quyết tâm của người học không phân biệt giàu nghèo hay nguồn gốc.

Mỗi một nước có những chính sách giáo dục khác nhau phù hợp với xã hội và điều kiện kinh tế. Mình giờ có thêm trải nghiệm với hệ thống giáo dục của Hà Lan vì hai đứa con nhà mình học ở đây. Nó cho mình một góc nhìn khác về giáo dục. Ở Hà Lan, mục tiêu đầu tiên cho trẻ con bắt đầu đi học là cho trẻ thích đến trường. Trẻ con bắt đầu đi học cấp một ngay sau sinh nhật 4 tuổi. Hai năm đầu học bằng cách chơi, không "nghiêm túc" tí nào. Trường cấp 1 nhỏ nhưng bố trí dày đặc quanh khu dân cư, ở thành phố thì trong bán kính 2 km thì chí ít phải tìm thấy một trường. 2 km quanh nhà mình có đến 4 trường tiểu học. Thế nên trẻ con các lớp lớn đều có thể tự đi học. Học cùng trường là vì nhà quanh đấy. Các trường đều không phải là trường nhà nước mà thường là của các tổ chức phi lợi nhuận. Nhà nước "đóng học phí" hộ bố mẹ cho các trường. Nên trường nhận kinh phí tỉ lệ theo đầu học sinh. Trường sẽ nhận được thêm một khoản cho các học sinh đến từ các gia đình mà bố mẹ bằng cấp thấp hay có những khó khăn trong việc học. Lý do là những học sinh này cần nhiều sự quan tâm dạy dỗ ở trường hơn. Trường cũng lo luôn sách vở bút giấy. Nhà giàu hay nghèo thì không thể hiện được gì ở trường. Mục tiêu là tạo cơ hội công bằng trong giáo dục cho trẻ em.

Cấp 1 thì không có lớp chọn nhưng các bạn học nhỉnh hơn thì sẽ được làm thêm sách nâng cao và hàng tuần được tách ra một buổi để học thêm những cái khác. Những bạn nào kém hơn một chút cũng được quan tâm phù đạo thêm. Mục đích là để các cháu thích đến trường, để từ đó thích học. Dậy kiến thức thì không nặng học nhiều lý thuyết cao siêu mà nặng kỹ năng và thực hành. Ví dụ, học toán thì cài vào học cách tiêu tiền. Học và thực hành luật giao thông ở ngoài đường. Trong việc dạy cụ thể thì các trường cũng khác nhau. Có nhiều triết lý giáo dục, các trường đều nói rõ họ theo triết lý giáo dục nào. Triết lý tự do nhất thì trẻ con đến trường được tự quyết định nhiều thứ, cả việc hôm nay học gì, cô giáo có nhiệm vụ chạy theo hướng dẫn thêm. Triết lý tự do không được nhiều phụ huynh chọn, mình đến thăm một trường như vậy trong quá trình chọn trường cho con, nhìn thấy trẻ con rất năng động, tự tổ chức lớp học, nhưng nó xa với cái căn Việt nam của mình quá nên không dám chọn. Các trường được chủ động cách dậy nhưng mỗi năm học sinh làm hai lần bài thi chuẩn quốc gia và kết quả được vẽ lên đồ thị. Đồ thị của con mình không đứng một mình là được đặt cạnh các đường tiêu chuẩn theo thông kê kết quả toàn quốc. Mình sẽ biết con mình nằm trong phân khúc nào trong cái thông kê này. Mỗi năm học sẽ cho 2 điểm trên đồ thị và mỗi môn là một đồ thị. 

Thầy cô cũng không chịu áp lực từ phụ huynh và nhà trường nên điểm thi tương đối trung thực. Mà thấp quá hay cao quá bất thường là có thanh tra đến ngay. Nếu thấp quá mà thanh tra xong có khi trường sẽ được đầu tư thêm. Việc ở lại lớp ở đây là bình thường. Có lần cô muốn con mình vào nhóm học nâng cao, cô phải viết thư hỏi xem phụ huynh có muốn cho con mình học nâng cao không, vì sẽ ít thời gian chơi hơn. Mình sống ở đây bao năm mà vẫn bất ngờ, tư tưởng của mình vẫn là đánh xuống thì mới phải bàn, còn đánh lên ai chả nhận. Thế mà ở đây có nhiều phụ huynh không muốn nhận. Quan điểm phụ huynh và xã hội ảnh hưởng rất nhiều đến hệ thống giáo dục. 

Ở đây không có họp phụ huynh đại trà mà chỉ họp riêng từng nhà, con nhà nào biết nhà nấy. Cứ nhớ hồi xưa bố mình đi họp phụ huynh về là rất sợ vì thường mình bị nhắc nhở nhiều. Giờ mình mới nhận ra đấy là hình thức "đấu tố" với cả phụ huynh và học sinh. Đồng nghiệp bạn bè cũng không bao giờ lôi chuyện con mình ra khoe hay hỏi về con người khác. Mọi người đều ý thức được rằng trẻ con có năng lực khác nhau và tốc độ phát triển khác nhau. 

Tuỳ năng lực học sinh (dựa vào điểm số các năm và đánh giá của thầy cô), học sinh sẽ được phân luồng ngay sau khi học xong cấp 1 (cấp 1 có 8 lớp). Có ba luồng chính là từ luồng học nghề, luồng đại học thực hành, và luồng đại học hàn lâm. Những bạn đi học nghề có khi 17 tuổi đã có thể đi làm, không phải phí thêm mấy năm học vô bổ. Học sinh sẽ phải vào 1 trong 3 luồng này theo kết quả học tập. Trong mỗi luồng sẽ có các nhánh nhỏ thì học sinh sẽ chọn tuỳ theo sở thích của mình. Việc phân luồng từ 12 tuổi cũng nhận được nhiều chỉ trích, chẳng hạn như có trẻ bộc lộ khả năng muộn, để giải quyết việc này thì việc chuyển luồng lên xuống có thể xảy ra tuỳ theo kết quả học tập ở các năm tiếp theo. Nhưng theo thống kê thì không nhiều.

Hệ thống giáo dục như vậy nhưng vẫn có nhiều phàn nàn chỉ trích. Một trong những chỉ trích thường được nói đến là học sinh kém chịu áp lực, sau này ra đời dễ bị stress. Phương Tây có một bệnh hay gặp trong lực lượng lao động gọi là burnout (bệnh tâm lý mất hết năng lượng và động lực làm việc). Mình vẫn hay nói đùa với đồng nghiệp tao hơi bị khó burnout vì có burnout thì tao đã bị từ khi thi đại học 1 chọi 10 ở Việt nam rồi. Việt nam chắc cũng có burnout ở học sinh và người lao động nhưng xã hội chưa để ý. Nhìn chung thì mình thấy mọi người ở đây đều thoải mái với con đường mình chọn vì họ hiểu năng lực của mình và họ thích những việc họ làm.

Việt Nam có một hệ thống giáo dục tốt so với trình độ phát triển, mình mài đũng quần 12 năm phổ thông và 5 năm ĐH ở Việt nam. Ra thế giới thì mình thấy mình cũng không kém gì. Những năm sau này thì mình thấy nhiều cái còn tốt hơn hồi mình học nhưng cũng có nhiều cái xấu đi. Mình sợ nhất khẩu hiệu "xã hội hoá giáo dục". Tinh thần thì đúng nhưng thực hiện thì theo kiểu nhà nước buông nhân dân mạnh ai nấy lo. Trẻ con nhà có tiền giờ tập trung vào một số trường. Học sinh cấp một học cùng nhau là do điều kiện kinh tế của bố mẹ như nhau. Cái này có nhiều cái xấu hơn là tốt. Trẻ con sẽ có cái nhìn hẹp hơn. Đi lên XHCN mà xã hội ngày càng phần lớp phân tầng trong giáo dục và y tế. Thế hình như là đi xuống.

Nhà nước nên tạo điều kiện cho xã hội tham gia nhưng khuyến khích các tổ chức phi lợi nhuận, tạo điều kiện về đất đai, mục tiêu cuối cùng là phải tạo cơ hội công bằng trong giáo dục cho trẻ em bất kể giàu nghèo, xuất thân, vùng miền. Chương trình thì tuỳ trường nhưng đánh giá thì thống nhất. Nhận thức của xã hội cũng sẽ tự dần thay đổi khi thấy rằng thành tích ảo thì sẽ lĩnh hậu quả nặng nề. Những học sinh điểm số giỏi mà ra đời vẫn dựa dẫm bố mẹ, xin việc cũng phải cậy nhờ, bằng cấp đầy mình nhưng  chẳng ai nhận, khổ mình, khổ bố mẹ, và khổ cả xã hội.


Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020

Giải Quyết Khâu Tức

Trên FB ầm ĩ câu chuyện một anh chàng truy tìm cô vợ, vừa mới cưới, bỏ đi theo trai. Anh chàng này nuôi cô gái từ khi còn học đại học. Đúng là "công anh bắt tép nuôi cò, cò ăn có lớn cò dò lên cây". Cô vợ giấu địa chỉ, chỉ muốn làm thủ tục chia tay nhưng anh chồng đăng FB nhờ cộng đồng truy tìm "đôi gian phu dâm phụ" để trả thù cho bõ tức. Nhiều người đồng cảm cùng anh chồng còn bày cách, tư vấn này nọ. Mình chả hiểu để làm gì, để giải quyết khâu tức?

Nếu chỉ để giải quyết khâu tức thì mình thấy mất thời gian công sức. Mình cũng chẳng xuất phát từ lòng từ bi hỉ xả gì. Mình chỉ nghĩ đơn giản như trong kinh doanh người ta gọi là "cắt lỗ". Để cắt lỗ, nhà đầu tư không nhìn vào quá khứ mà nhìn vào diễn biến tương lai. Dù anh mất hay được bao nhiêu trong quá khứ cũng không có ý nghĩa, mà quan trọng là nếu anh còn tiếp tục dính vào thì anh còn mất nữa. Thời gian tâm huyết đó, anh đầu tư vào việc tích cực thay vì để gánh nặng quá khứ đeo bám anh, nó đã làm hỏng quá khứ của anh và còn tiếp tục làm hỏng tương lai của anh. Có nhiều người phí cả cuộc đời chỉ vì chưa giải quyết được khâu tức, năng lượng của họ bị hút hết vào việc đòi lại "công bằng" trong vô vọng.

Ở góc độ cá nhân, nhiều lúc anh phải chấp nhận là cái thế gian này nó không công bằng. Anh có là dân oan mất đất, đi đòi mãi mà như nói với bức tường thì tốt nhất bỏ đi. Cùng thời gian công sức đó, anh làm lại có khi ra nhiều hơn cái đã mất mà cái tâm anh nó bình yên. Cuộc đời không công bằng trong đường ngắn, nhưng nó sẽ công bằng trong đường dài. Cái thằng nó lấy được của anh rồi có cũng phải trả lại, không cách này thì cách khác. Tất nhiên nếu anh muốn dành cuộc đời anh để làm cho xã hội công bằng hơn thì lại là chuyện khác. Nó ko phải là giải quyết khâu tức và đừng đấu tranh cho công bằng xã hội với tâm thế của một người bực tức. Tức giận có thể là nguồn cơn của việc thay đổi nhận thức để dấn thân, nhưng nó vô cùng nguy hiểm nếu không được bỏ lại đằng sau, bởi vì không một xã hội tốt đẹp nào có thể được xây nên bằng sự tức giận và sự hả hê.

Có những cái tức nhỏ, có những cái tức to. Mai là ngày 30 tháng 4, có nhiều người vui, có nhiều người vẫn tức. Mình hoàn toàn hiểu được sự bực tức đấy. Ai mà vì thằng khác mà mất nhà mất cửa thậm chí mất vợ mất con mà không tức mới lạ. Nói tức là còn nhẹ, phải nói là thâm thù. Tuy nhiên, mình chỉ mong rằng, những người còn tức ngộ ra rằng sự bực tức sẽ giam cầm quãng đời còn lại của họ. Hãy vì chính họ mà bỏ lại cái tức đằng sau như những nhà đầu tư thông thái biết cắt lỗ. Mình đã thấy nhiều người vui vẻ cắt lỗ và mình mong rằng số này sẽ tăng lên trước khi quá muộn.

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2020

Làm Tiến Sỹ: Hỷ Nộ Ai Ố

Đọc bài duyên nợ với Hà Lan, TS Dũng, ông anh chung KU (Korea University), "đặt hàng" mình viết về hỷ nộ ai ố trong quá trình làm tiến sỹ để cho sinh viên đọc. Hứa trả bằng phở nên khó từ chối.

Quá trình làm tiến sỹ của mỗi người là khác nhau, phụ thuộc nhiều vào văn hoá và tính cách của người hướng dẫn, của nhóm làm việc, và của nước sở tại. Rồi còn tuỳ ngành tuỳ đề tài. Quan trọng hơn là phụ thuộc vào tính cách và nhân cách của nàng (hay chàng) nghiên cứu sinh. Thôi cứ kể chuyện của mình, coi như là một ví dụ. Cuối bài mình sẽ gắng rút ra một số bài học cốt lõi mà mình tin là tương đối phổ quát.

Làm TS thường phải trải qua đủ hỷ nộ ai ố như một bộ phim. Mới vào thì hồ hởi phấn khởi, làm một thời gian thấy mông lung, không biết bắt đầu cuốc ở đâu. Thử cuốc thì cuốc mãi, mà không thấy gì (có lúc mừng hụt) trong khi thời gian trôi nhanh, bắt đầu khủng hoảng bế tắc. Rồi đến một ngày, nhát cuốc bập đúng mạch, cứ thế hăng say cuốc lộ dần kho báu. Gần hết phim là gói gém cắt gọt thành quyền luận án. Cũng có người bập vào mạch nhanh, thường là đi theo mạch của mình hay ai đó đã làm trước hoặc đề tài có mục tiêu cực kỳ cụ thể. Có người cuối cùng lần không ra, nhưng thường là do không dồn hết tâm huyết hoặc không tỉnh táo uyển chuyển.

Đề tài của mình nằm trong dự án lớn của EU về thông tin quang, consortium có 17 trường, viện, và công ty, toàn tên tuổi lớn trong ngành. Mình được GS đưa cho proposal của dự án, bảo nhóm mình phải phụ trách một số mảng, mày thì chịu trách nhiệm đóng góp cho phần truy nhập quang đa bước sóng. Lời sấm truyền mơ hồ quá, không khác gì bảo mày vào khu rừng này (ít nhất chỉ ra cho mình khu rừng), tìm cho tao cái gì đó hay hay (tao cũng ko biết là gì) mà phải là cái chưa thằng nào tìm ra. Quá nhiều tự do lại là một vấn đề lớn. Rất may tính mình thích tự do, tự lần mò nên cũng không quá ngợp.

Thời nay làm nghiên cứu cũng dễ hơn, ngồi một chỗ có thể đọc tài liệu khắp nơi, dễ kiếm dễ lấy. IP của trường mình có thể vào tất cả các thư viện online lớn trên thế giới vì trường đã mua cả gói. Vừa đọc vừa ngẫm ngợi 6 tháng cũng chưa biết mình cần giải quyết cái gì, làm ở lớp vật lý hay lớp logic, tín hiệu dữ liệu hay điều khiển. GS thì bảo khi nào có kết quả thì lên trao đổi còn không thì thôi, tao rất bận. Ông daily supervisor gài vào cho đủ bộ chứ mình nhìn vào background là mình biết không giúp gì được (được cái ông này cũng biết thế nên để mình tự do). Hỏi loanh quanh mấy ông postdoc thì mỗi người nói một kiểu. Có bố người Anh còn bảo mày mà không viết được báo thì tao giúp. Mình nghe vậy biết vậy, chứ làm TS mà không nắm vận mệnh mình trong tay thì làm làm gì. Tuy thế mình học được của bố người Anh một võ rất hay. Đừng nghĩ gì to lớn cao siêu cả, muốn có báo rất dễ, cứ đặt ra một bài toán nhỏ xíu thôi, miễn là thú vị, rồi giải quyết nó. Cũng không nhất thiết là hẳn ở trong đề tài, quan trọng là tận dụng được cái sẵn có xung quanh. Mình làm một phát, có tí thí nghiệm lớp vật lý, được nhận ở hội nghị tầm trung. Sau mở rộng dần đăng được đến Journal, nhưng mới chỉ gọi là nổ tạch tạch tè tè. Nhưng nó quan trọng là giải quyết được vấn đề tâm lý và học dần cách viết.

Không thấy có giấy trắng mực đen nào nói về tiêu chuẩn tốt nghiệp, hỏi thì GS trả lời mà như không. Nhìn những gương đi trước thì thường cũng phải có ít nhất 2 đến 3 con journal đầu ngành, hội nghị đầu ngành 3 bài, hội nghị khác không tính. Có một trường hợp cả biệt chả có con journal cũng tốt nghiệp (hy vọng của tôi đây). Muốn có 2 Journal lúc tốt nghiệp (chỗ mình làm 4 năm), thì phải submit con đầu tiên muộn nhất là đầu năm thứ 3 vì review nhanh thì 3 tháng, lâu thì gần năm, mà chắc gì đã được accept.

Mình loanh quanh đến cuối năm thứ 2 mới submit con journal đầu tiên, nhưng cũng chỉ là lấy ngắn nuôi dài vì giải quyết mấy bài toán nhỏ mà chưa thấy vừa vào bức tranh lớn nào cả. Mình cứ nghĩ mãi, trong cái khu rừng này thì mọi người quan tâm đến vấn đề gì nhất. Tăng dung lượng nhiều thằng làm rồi, tăng khả năng tái cấu hình cũng nhiều thằng làm rồi. Nhìn đâu cũng thấy dấu chân. Thấy có le lói ở chỗ là mạng truy nhập thì giá thành không thể cao được. Thế nên mình tập trung giải quyết vấn đề giá thành, tăng dung lượng, tăng khả năng tái cấu trúc mà giá vẫn phải không đổi.

Ngẫm ngợi hơn năm trời, trong lúc vẫn làm thí nghiệm lấy ngắn nuôi dài, mà chưa có giải pháp gì đột phá. Đến một hôm trong lúc mơ màng trong nhà vệ sinh thì bật ra (thật thế). Nôm na là đường 10 làn xe, thông thường các xe đi làn nào cũng được, làn nào đông thì nhảy sang làn khác. Nhưng chuyển đổi bước sóng mà nhẩy hết tất cả các bước sóng thì bộ thu phát đắt quá. Mình đề ra nguyên tắc là các xe chỉ được di chuyển trong một số làn nhất định, rồi dồn xe dây chuyền thì hiệu quả cũng giống như được chạy tất cả các làn. Nhưng khoa học thì không nói khơi khơi thế được. Phải chứng minh định lượng. Dùng toán học thì mình cũng chứng minh được là nếu một xe chỉ được di chuyển giữa 2 làn thì hiểu quả đã đạt được phần lớn, di chuyển trong 3 làn thì hiệu quả có tăng nhưng tăng không nhiều. Đại khái là hiệu quả sẽ tiếp cận dần đến 100% theo hàm số mũ. Các nhóm xe được chia tối ưu cho nhóm này móc vào nhóm kia, mình đề ra khái niệm cyclic-linked flexibility. Nhưng lý thuyết toán với mô hình lý tưởng là vậy, nhưng kiến trúc mạng và linh kiện thực tế thì như thế nào? những thông số không lý tưởng sẽ ảnh hưởng ra sao?

GS mình bận, ông thấy mình tự lực được nên không bao giờ hỏi han, chỉ khi nào có kết quả, thậm chí viết thành báo rồi mới gửi cho ông. Chỉ đi hội nghị với đi họp dự án là hay có thời gian cùng nhau. Đi ăn toàn phải chia tiền có dịp mình sẽ kể sau. Có một cậu đồng nghiệp bị cho nghỉ giữa chừng vì 2 năm không ra kết quả gì. Cậu này lúc nào cũng trông chờ được hướng dẫn kiểu phải mớm ý tưởng cho để làm. Một hôm GS mình hỏi, mày biết TS có nghĩa là gì không? Mình lắc, ông bảo trở thành TS là trở thành là một nhà nghiên cứu độc lập. Phải độc lập trong phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề. Ý kiến người khác chỉ là tham khảo.

Mình mất gần 2 năm miệt mài xây dựng thí nghiệm, hệ thống trộn lẫn giữa tín hiệu thực tế và mô phỏng điều khiển. Xin mua linh kiện máy móc, ngồi viết code, debug với niềm tin là kết quả sẽ khẳng định những gì mình phán đoán. Đốt mất 2 con tunable laser giá 4000E một con, những thứ hỏng lặt vặt khác không kể. Ấy thế mà đến lúc chạy xong kết quả ra không khớp với kỳ vọng. Báo thì đã lên khuôn chỉ cần đặt đồ thị vào là đẹp. Lúc này đã giữa năm thứ 3, chạy đi chạy lại thí nghiệm mà kết quả vẫn không theo hướng mình muốn.  Thời gian thì sắp hết, xoay sang thí nghiệm khác thì không kịp.

Một tuần liền như người mất hồn, đi ăn trưa với mấy đứa NCS khác, nghe chúng nó cười nói mà tai mình cứ ù đặc, chân tay lạnh toát. Mất một tuần ngoài thẫn thờ trong bão tố. Mình bỏ ra bờ suối ngay chân toà nhà làm việc ngồi cả buổi chiều (chắc thiên hạ tưởng mình thất tình). Tại sao mình cứ phải cần kết quả theo ý mình phỏng đoán? Lùi một bước, tự dưng trời lại quang mây lại tạnh. Kết quả như thế thì mình sẽ kể một câu truyện khác, hấp dẫn không kém gì, đâu nhất thiết phải đi theo mạch truyện đã định từ trước. Thế là mình tự kéo mình khỏi vũng lầy. Nhìn từ góc mới, kết quả có được lại quá hay. Kết quả negative không có nghĩa là không có giá trị, thậm chí giá trị cao nếu biết cách "tán". Bắt tay vào viết con Journal lớn đầu tiên, cốt lõi của luận án TS sau này. Rất hiếm khi có bài báo nào chỉ có kết quả mô phỏng mà đăng được trên Journal of Lightwave Technology. Bởi vì báo của mình không nặng trình bày kết quả mà kể một câu chuyện hấp dẫn.

Sau phát đại bác, mình nổ thêm đôi bài nữa. Đến đầu năm thứ 4 hỏi dò GS xem đã được viết luận án chưa. Ông cũng chỉ ậm ừ, bảo mày còn thời gian chứ không bảo thiếu hay đủ. Mình kệ, cứ bắt đầu viết sớm bên cạnh việc làm thí nghiệm (và ngó nghiêng tìm việc). Viết luận án thì cũng là kể truyện nhưng là truyện dài kỳ. Những kết quả mình làm được, giờ phải xâu chuỗi làm sao. Mình xoay vần mãi mới nghĩ ra mạch truyện. Những cái lấy ngắn nuôi dài thì gài vào đâu cho liền mạch. Cũng không thể tham, có gì bày tất ra, phải cất bớt đi, cỗ mới đẹp. Viết xong cái mục lục, gửi GS xem, cụ không chê không khen, thế là ok rồi. GS mình hướng dẫn mà như không hướng dẫn mới tài. Tuy thế mục lục ban đầu vẫn còn phải tinh chỉnh nhiều trong suốt quá trình viết. Mình cũng rút kinh nghiệm từ trước nên những kết quả đo đạc phủ đầy đủ các trường hợp, phần lớn chưa dùng đến vẫn cất đấy. Chứ đến lúc viết mà thiếu kết quả đo đạc, chạy lại thí nghiệm sẽ rất mất công, thậm chí là không thể. Ra bản nháp đầu tiên mất 5 tháng, vân vê thêm 4 tháng nữa mới hoàn thành. Hội đồng thành phần từ 4 nước khác nhau có đủ 3 tháng để đọc và nhận xét. GS mình quan hệ rộng và tốt, nên ông ấy đã gật thì cả làng cùng gật.

Lấy được chân kinh, mình ngộ vài điều.

Mình ngộ ra rằng, dù là một bài báo khoa học, mình phải kể một câu chuyên trôi chảy, có đưa đẩy, có thắt có mở. Những kết quả đo đạc thí nghiệm chỉ là những bằng chứng và là một phần của câu chuyện. Sau này đi review nhiều, mình càng thấm thêm. GS mình viết báo, vấn đề có xíu nghe rất thần thánh mà không bị lố tí nào. Dẫn truyện ra sao, claim gì claim ở mức độ nào, phê phán người, phê phán mình thế nào, viết một câu sao cho thoát ý là cả một nghệ thuật. Cứ tìm mấy bài của những cây đại thụ trong ngành mà học cách họ viết. Người giỏi bao giờ cũng siêu trong cách diễn đạt. Một sai lầm hay gặp phải là anh cứ say đắm với thí nghiệm và kết quả của anh, thế gian hình như chỉ có mỗi nó, đến lúc viết báo thì cứ lấy nó làm trung tâm. Làm thế cũng ra báo nhưng thí nghiệm và kết quả của anh phải rất mạnh hoặc báo letter 3 trang. Hơn nữa như thế rất "tốn" kết quả, dùng vừa còn dành viết bài khác.

Đọc vừa đủ, đọc quá nhiều làm đầu óc mình bị dính vào những lối mà người khác đã đi. Tốt nhất là đọc những bài ở Journal và hội nghị đầu ngành. Đọc để lấy big picture rồi mình tự nghĩ, rồi lại đọc, rồi lại nghĩ. Cũng không nên hoảng hốt vì cái gì mình định làm tra một lúc lại thấy có thằng làm rồi. Như thế có nghĩa là mình nghĩ đúng đấy, chỉ là sinh sau đẻ muộn thôi. Mà đừng tin hết những gì thằng khác viết. Luôn đặt câu hỏi.

Mình phải là người làm chủ con đường mình đi. Tất cả những lời người khác nói chỉ là giúp đỡ, tham khảo, kể cả GS. GS giỏi bao giờ cũng rất vui nếu trò chủ động và thậm chí không "nghe lời" mình nhưng biết cách giải thích. Tất nhiên điều này không có nghĩa là mình không cần đến ai cả.

Trong quá trình làm thì nên gần gũi thân thiện với mọi người, trong nhóm ngoài nhóm. Có những cuộc nói chuyện vu vơ bên cốc cà phê mà ra vấn đề. Nói qua nói lại, nhiều khi bật ra những ý hay. Trong thí nghiệm mình đang dựng, mình cần điều khiển bật tắt cực nhanh con chip khuyếch đại quang. Chưa biết làm thế nào. Đi mua mạch có sẵn thì không có, tự thiết kế hoặc nhờ thiết kế thì đến bao giờ. Nói chuyện vu vơ với ông GS khác trong nhóm, ông bảo tao có cái mày cần. Rồi mình làm thí nghiệm thì cần linh kiện, thiết bị, đến lúc deadline thì ai cũng cần. Quan hệ tốt là một chuyện, những cũng cần phải có qua có lại. "Kho" của mình có một số món độc mà thiên hạ cần. Trong nhóm mình có mấy cậu người Tàu, tạo thành một nhóm kín đưa linh kiện, thiết bị cho nhau. Mọi người biết thế hay kêu. Mình chả kêu, mình chơi luôn với mấy ông Tàu. Mình chả ghét ai đâm ai cũng quý. Mình giúp nhiều người vô tư, đến lúc cần lúc nào cũng có người sẵn sàng giúp. Quan hệ tốt quan trọng lắm, cho công việc và cho cả việc mở rộng hiểu biết cuộc sống và các văn hoá khác nhau.

Làm TS, đi hội nghị là vui nhất, nhóm mình hội nghị đầu ngành mà được accept là nghiễm nhiên được đi. Muốn đi chơi Mỹ thì cứ chịu khó có bài là đi. Đi hội nghị tranh thủ đi chơi những vẫn không quên nhiệm vụ. Mà hội nghị chủ yếu là để gặp và trao đổi chứ còn đọc bài báo thì ở nhà đọc vào hơn. Vượt qua ngại ngùng, mình thấy cần là hỏi. GS mình cũng hay hỏi, nhiều lúc thầy trò thay nhau chiếm mic. GS mình có tiếng trong ngành nhưng vẫn hỏi nhiều câu nghe thì "ngô nghê" nhưng chả vấn đề gì, thực ra nó xoáy vào những cái mà mọi người không nghĩ đến. Poster presentation cũng là chỗ tốt để trao đổi, có nhiều cái hay bật ra từ những cuộc trò truyện như vậy. Nhiều khi đi hội nghị về, thấy mình sao lười và nghĩ hẹp thế, bắt đầu có cảm giác "sense of urgency", thế là có động lực thức khuya dậy sớm.

Trong lúc khủng hoảng, mình đã phải đấu tranh rất nhiều. Chỉ cần đổi vài thông số đầu vào, nắn đường cong một chút là mình có kết quả đẹp như mơ ngay. Hay mình làm thế nhỉ? Đó cũng là một lối thoát. Cái khôn lỏi trong anh chàng người Việt cứ tỉ tê, bước đường cùng rồi nhích đi, chỉ mình biết và cái máy tính biết. Nhưng trong lúc cùng quẫn nhất, mình nhớ lại những gì các thầy đã dạy, GS Hân, GS Park, GS Koonen, rồi cả bố mình (đời mình may gặp toàn sư phụ tốt). Khoa học kị nhất gian dối, anh có thể có một bài báo đẹp nhưng anh sẽ không bao giờ xây dựng được một hệ thống chạy thật. Ừ thì anh chỉ cần báo để tốt nghiệp, nhưng anh đã đánh mất tư chất của một nhà khoa học, thì sau nay anh sẽ trượt dài theo nó. Trung thực mà vẫn tìm ra lối thoát sẽ làm anh trưởng thành hơn, đừng từ bỏ dễ dàng. Giữ được niềm tin trong lúc mọi thứ chống lại nó mới thật sự gọi là giữ. Con đường đó sẽ nhiều chông gai, dường như vượt quá khả năng của anh, nhưng khi vượt qua được sẽ có nhiều hoa thơm trái ngọt và nó bền vững. Quan trọng hơn là anh vượt qua được chính mình và thoát ra với một bản ngã hoàn thiện hơn. Còn gì hạnh phúc hơn những giây phút như vậy. Mình càng thấm thía tại sao cuối lễ bảo vệ ở Hà Lan, chủ tịch hội đồng luôn có một bài dài nhắc nhở với tân TS về sự chính trực (integrity).

Lấy được kinh

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2020

Tiến Sỹ: Thường Thôi

Hôm nọ nói chuyện đi làm tiến sỹ, nhiều người khen giỏi, mình lại thấy rất thường.

Ở góc độ cá nhân, cuộc đời đã đi vào cái ngõ này rồi thì trên đường gặp ai cũng là TS. Có lần đi chuyển nhà giúp cho ông anh, hai vợ chồng chủ nhà đều là TS, 5 ông cửu vạn thì 4 ông TS, 1 ông sắp TS. Chỉ có cháu bé con chủ nhà mới biết đi chưa kịp làm.

Bố mình là GS TSKH, khách đến chơi nhà từ bé cũng toàn tiến với lùi. Khu Bách Khoa ngày xưa, nghe tiếng kẻng thì toàn TS quần đùi may ô xách xô đi đổ rác. Gần chùa gọi bụt bằng anh. Bố mình giờ chỉ cần được giới thiệu là nhà thơ, còn GS TSKH chỉ là phương tiện để nuôi ông nhà thơ và vợ con ông. Cũng may còn kiêm thêm GS TSKH không có thì vợ con ông cũng rách như gia quyến ông Tản Đà.

Sau này lấy vợ mới phát hiện bố vợ cũng lại là TS còn cho còn phá (CCCP) như bố đẻ. Mình hay đùa với con gái là con được đúc ra từ ông nội TSKH, ông ngoại TS, bố TS, những đối tượng còn lại thì chê TS làm mất thời gian. Nó bảo sau này con cũng làm TS. Bố thì chỉ mong con thích những việc mình làm. Xung quanh mình nồng độ TS hơi cao. Cái chuyện "đầu đường đại tá bơm xe, giữa đường trung tá bán chè đỗ đen" với mình chuyển thành "trên nhà TS ru con, dưới nhà rửa bát lại là GS".

Gia cảnh như vậy nên mình có là TS thì cũng rất thường. Mình có anh bạn bố nghiện rượu, nhà vách đất nghèo nhất tỉnh Phú Thọ mà thành TS, mà là loại TS khủng có tiếng trong ngành, dậy trường top10 thế giới. Cũng chả đâu xa, bố mình mẹ mất sớm, lớp 9 mới nhìn thấy bóng điện, sáng đập đất đèn, tối còn bay bổng với đại số mới. Những người như vậy ý chí họ lớn lắm. So với họ thì mình mới đi dăm bước chân đã thành TS. Mà là TS nửa mùa, nửa còn làm nghề, nửa chuyên đi bốc phét. Thế nên thường không nhớ mình là TS. Giám đốc công ty thỉnh thoảng lại chào đểu là đốc tờ Tran đi đâu đấy (ông này cũng là TS vật lý, dạy ở CalTech rồi nhưng bỏ về mở công ty), mình đùa lại là ông nhắc tôi mới nhớ.

Ông GS hướng dẫn TS mình là người rất nổi tiếng trong giới, fellow này nọ những không phải là TS, ấy thế mà đẻ ra toàn TS. Có người giỏi họ chả cần danh TS kể cả theo con đường khoa bảng. Ở rất nhiều nước không có giấy trắng mực đen nào đòi GS phải là TS.

Góc độ cá nhân là vậy còn ở góc độ chung thì TS trên thế giới bây giờ quá nhiều không như hồi xưa. Mà mình mới đang tính đến loại TS làm thật chứ chưa tính loại TS tại chức. TS đào tạo ra không theo nhu cầu mà là theo năng lực sản xuất. Cái gì cũng có căn nguyên của nó. Để làm các dự án nghiên cứu khoa học ở trong các trường đại học thì cần phải thuê người. Giờ thuê loại nào là rẻ nhất và tốt nhất? Thuê ngay ông thạc sỹ, trả bằng lương kỹ sư mới ra trường hoặc thậm chí thấp hơn. Ông này làm việc rất hăng vì ông có chút đam mê với cả phải đủ thành tích thì mới có bằng. Cũng chẳng sợ ông bỏ đi đâu khi chưa bảo vệ. Thuê kỹ sư làm như ngoài công ty thì tiền đâu mà trả bằng công ty được hay thuê mấy ông postdoc (TS rồi nhưng chưa tìm được việc lâu dài) thì các ông nhấp nhổm có chỗ nào ngon là té.

Thế nên TS trong một chừng mực nào đó là sản phẩm phụ của việc thực hiện dự án trong trường đại học và viện nghiên cứu. Mà dự án bây giờ nhiều. Cung vì vậy đôi lúc vượt quá cầu. Tất nhiên quá trình làm dự án cũng là một quá trình đào tạo rất thực chất, phải sáng tạo ra cái mới, đào luyện con người có tư duy độc lập. Nếu sau không theo đuổi nghiên cứu nữa thì trình độ tư duy cũng được phát huy ở những lĩnh vực khác.

Với mình thành TS cũng chỉ là một cột mốc trên con đường mình theo đuổi những cái khác. Chưa bao giờ nó là mục đích phải nhăm nhăm đạt được, nên mình thấy cũng không có gì to tát và chắc nhiều người cũng thế. Như lời bố mình vẫn bảo: "TS thì mới chỉ là bắt đầu thôi".

Làm thí nghiệm đâu khoảng năm 2010

Bàn làm việc những ngày trước khi bảo vệ đầu 2013

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2020

Duyên nợ với Hà Lan

Hôm nay đi đổi bằng lái xe, 10 năm phải đổi một lần, tưởng là lâu hoá ra nhoáng một cái là hết. Đã hơn chục năm loanh quanh ở Hà Lan. Thi thoảng vẫn có người hỏi sao mày lại mò được đến đây. Mình vừa đùa vừa thật nói là do Google.

Hai năm ở Hàn Quốc về, mình cũng không có ý định đi đâu nữa. Ở Việt Nam làm cho Panasonic R&D cũng nhiều cái thú vị. Chuyện vào Panasonic cũng lại rất tình cờ. Đi hội nghị gặp một cậu người Sing làm cho Panasonic R&D Singapore, cậu nói chuyện Panasonic mới mở một phòng thí nghiệm ở Hà nội. Mình thấy hay, trước giờ hay nghe đến FDI mở nhà máy chứ ít khi nghe thấy mở phòng nghiên cứu. Xem trên mạng thì thấy hết đợt tuyển rồi những vẫn nhờ cậu người Sing là mày viết cho tao cái thư kết nối. Gửi email hồ sơ, mấy hôm sau được mời đến phỏng vấn ngay và luôn, chả chuẩn bị gì. Lần đầu tiên nghe người Nhật nói tiếng Anh, bác tổng giám đốc hỏi "Do you have any question?" mà nghe đến mấy lần mới ra được chữ "quét si ôn". Vừa về đến nhà thì chị Vân làm tổ chức đã gọi điện offer tuần sau đi làm, lương tính bằng đô nên mình gật luôn. Đời mình cứ thấy đâu hay là tự xông đến.

Làm cho Panasonic một thời gian mình học được nhiều nhưng bắt đầu thấy lấn cấn. Nhìn chế độ đãi ngộ của công ty với nhân viên người Nhật và người Việt, mình có cảm giác như là công dân hạng hai. Vị trí của mình nằm kẹt giữa mấy bác Nhật và khối kỹ sư Việt Nam nên có điều kiện quan sát. Cảm giác của mình vậy thôi chứ đồng nghiệp Nhật đều rất lịch sự và thân thiện. Sang Nhật công tác mình mới ngộ ra rằng, những kỹ thuật gốc thì họ giữ lại ở Nhật, những việc kỹ thuật thấp hơn nhưng tốn nhân lực, họ sẽ đẩy sang Việt Nam như một cách giảm chi phí. Mình khó có thể học được cái gì từ đầu đến cuối ở đây, sau lại như thầy bói xem voi. Trong đầu mình bắt đầu nhen nhóm ý định đi làm tiến sỹ. Một phần nữa là mình thấy đường học của mình có vẻ chưa xong.

Trao đổi với gia đình thì bố bảo tuỳ mày nhưng nếu có đi thì phải đưa được vợ con đi cùng (con lúc này còn trong bụng mẹ). Bố mình có quan điểm thế: tao cung cấp thông tin, mày tự quyết tự bơi, sướng khổ tự chịu, khi nào chết đuối tao cứu. Thế là ngày đi làm, tối về Google, rồi lọ mọ làm hồ sơ. Thời mình Internet đã phổ biến nên cũng dễ. Nhắm đi Mỹ và châu Âu. Mình cứ vào Wikipedia xem danh sách các trường đại học ở một nước, rồi vào website từng trường, đánh giá về trường, xem thông tin về lab và các vị trí đang tuyển. Bắt đầu bắn tỉa. Sau độ 1 tháng thì có phản hồi đầu tiên. Thi thoảng cứ đến tối là có cuộc phỏng vấn qua điện thoại. Dính phát đầu tiên là trường Memphis ở Tennessee Mỹ, nhưng học bổng có 1200 đô, không đủ đưa gia đình đi nên mình im chưa trả lời. Chalmers, Thuỵ Điển phỏng vấn xong thì bị từ chối vì họ cần người có kinh nghiệm thực tế về vật lý laser, mà mình thì ngoài cái bút laser chưa sờ đến thứ khác bao giờ. TU Eindhoven phỏng vấn điện thoại xong, mời sang Hà Lan phỏng vấn, họ trả tiền. Vì vướng lịch đi Nhật tháng 12, nên phải lùi lại cuối tháng 1 năm 2009 vì đầu tháng thì bên Hà Lan đi nghỉ chưa về. Đâm ra trễ mất gần 2 tháng. Đầu Hà Lan có vẻ không muốn đợi.

Đúng chiều thứ 4 mùng 3 tết xách ba lô lên đường. Vì muốn ăn đủ 3 ngày tết nên phải bay hơi lòng vòng, do không có chuyến bay từ Hà Nội sang Châu Âu vào thứ 4 (hẹn sáng thứ 6 phỏng vấn, hẹn thứ 6 cũng là có "âm mưu" của nó vì hội đồng thường sẽ dễ tính hơn), phải bay vào Sài Gòn, sang Frankfurt, rồi mới đến Amsterdam. Vào Sài Gòn đợi 5 tiếng còn tranh thủ thăm ông anh họ. Tết nhất bận, chẳng chuẩn bị gì, lên máy bay sang Frankfurt mới bắt đầu ôn bài, làm slide trình chiếu. Tính mình vẫn hay cao bồi chủ quan thế. 4 giờ chiều thứ 5 (10 giờ tối giờ Hà Nội) mới đến được khách sạn. Mệt quá đánh một giấc, tỉnh dậy đã 9 giờ tối. Xuống lễ tân hỏi cách vào mạng để báo tin về nhà thì chẳng thấy ai. Chạy ra phố định kiếm quán cafe Internet thì vắng như chùa bà đanh. Quê hơn cả Mù Căng Chải. Đành quay về, may vẫn còn ít đồ ăn thủ ở trên máy bay.

Sáng hôm sau mò lên phỏng vấn, hội đồng 5 đồng chí. Chiến thuật của mình là tấn công chủ động, lùa địch vào bẫy. Xin phép được trình bày những kết quả nghiên cứu mà mình đã làm. Gài mấy chỗ cho mọi người hỏi. Thế là phần lớn thời gian trao đổi loanh quanh thứ mình đã làm, mà mình làm thì mình thạo nhất rồi. Một bác tên là Eduward dẫn đi xem lab, 2 tầng liền, nhiều máy móc, dây dợ. Bác này cũng tranh thủ kiểm tra mình. Chỉ vào cái máy hỏi mình là máy gì (hồi xưa ở Hàn, lab cũng có nhiều máy, nhưng không làm thí nghiệm lớp vật lý bao giờ nên mình chả biết gì). Mình bảo để tao nhìn lại, ở đây hơi tối. Mình biết là máy gì thì thường cũng có tên ở góc của bảng điều khiển, mình đọc ngay "optical spectrum analyser", mình "thật thà" là hãng này tao chưa dùng bao giờ (thực ra là hãng nào thì cũng thế). Eduward gật gù rồi dẫn đi ăn trưa. Lúc ăn trưa cứ hỏi dò xem mày có apply ở đâu nữa không. Mình bảo là có nhưng tao thích vị trí ở đây nhất (phét thế).

Thế là xong phỏng vấn, chiều thứ 7 mới bay về. Mình đã liên hệ trước với cậu Phú đang làm thạc sỹ ở đây. Cậu Phú dẫn mình đi loanh quanh giới thiệu cuộc sống ở đây, rồi dẫn sang nhà chị Trang. Chị Trang cũng sang đây theo chồng làm PhD. Gặp đúng người, vì mình đang muốn tìm hiểu cuộc sống gia đình có con nhỏ. Chị bảo không phải lo, sống tốt, chị bầu ở Việt nam rồi mới sang đây đẻ. Thế thì cứ theo dấu chân phía trước mà đi thôi. Sáng thứ 7 chị còn dẫn đi mua sắm, tranh thủ mua bình sữa với bỉm, ra chợ ngoài trời họp vào mỗi thứ 7 xem người ta bán gì. Xem một vòng thì mình càng thấy yên tâm cho vợ con sang đây. Đi đâu cũng chụp ảnh để về thuyết phục vợ sang đây đẻ. Trường chưa trả lời nhưng mình hơi có niềm tin.

Chiều thứ 7 ra sân bay, vì chiều đi có mỗi một cái ba lô nên chiều về mang giúp cho anh Hoá (mới gặp ở nhà chị Trang) một valy quần áo gửi cho trại trẻ mồ côi (may anh không gửi bột gì về). Bay về đến Nội Bài là 6 giờ sáng thứ hai, là ngày đi làm lại đầu tiên sau tết ở Panasonic. Trên taxi về nhà mới gọi cho công ty xin phép đến muộn một tiếng. Về nhà rửa ráy, chạy lên công ty mới 9 giờ. Bảo em vừa mới đi Hà Lan về, mọi người không tin (sáng thứ 4 tuần trước vẫn còn đi chơi nhà nhau). Lần sau đến muộn một tiếng thì lấy lý do hỏng xe là được rồi.

Mấy hôm sau nhận được email, đầu tiên báo rất tiếc là có ứng viên phù hợp hơn nên nó được nhận. Sau này mới biết là cái đứa được mời vì mình không sang ngay được (tưởng đi câu hoá ra mình lại là cá). Đoạn sau mới trình bày là mày có background rất phù hợp với vị trí khác. Vị trí này mở hơn một năm không tìm được người phù hợp vừa mới đóng. Giờ mở lại mà mày apply thì bọn tao nhận. Mình thấy vị trí mới còn thích hợp hơn nên đồng ý luôn. Cái này đúng là duyên.

Lúc này bắt đầu mới từ chối Memphis và NTNU bên Na Uy. Na Uy nhiều tiền hơn nhưng mình ngại lạnh mà chưa sang tận nơi nên chưa rõ cuộc sống thế nào. Còn mấy mối nữa chưa chung cuộc nhưng cũng thôi. Ở Hà Lan làm tiến sỹ được ký hợp đồng lao động làm nghiên cứu viên 4 năm, có lương hưu, đóng thuế đàng hoàng, không phải học bổng. Lương đút túi đủ nuôi vợ con, ngoài ra còn trợ cấp trẻ con với giảm trừ gia cảnh các loại, năm 40 ngày phép.

Báo với Panasonic thì bác tổng mời đến nhà ăn cơm, thuyết phục ở lại. Nhưng mình đã quyết rồi. Bác còn sai cả thuyết khách, một anh TS người Nhật. Vào phòng thuyết khách bảo tao biết là không lay chuyển nổi mày vì tao từng thế, thôi cứ ngồi nói chuyện chơi để bác tổng nhìn thấy. Sau này đi bác còn tặng một tượng thần may mắn, mình giờ vẫn giữ.

Chốt đi Hà Lan nhưng mình xin GS cho bắt đầu vào tháng 6 vì vợ tôi tháng 5 dự kiến đẻ mà vợ tôi không chịu sang Hà Lan đẻ. GS bảo mày cứ sang đầu tháng 4 mà nhận việc, nghỉ chỗ cũ rồi thì không có lương, sang đây ký hợp đồng có lương rồi tao cho về. Mình thấy GS sao tốt quá thế (có khi sợ mình chạy). Sau này thì mới biết là GS cũng tốt vừa thôi. Vì tiền dự án châu Âu mà không thuê người thì cũng không được lấy về. Mà trường lấy về 10 đồng, thì chi cho nhân sự cụ thể chắc chỉ 4 đồng. Ngoài tiền vé máy bay đi lại mấy lượt (cả lượt về vợ đẻ), trường còn có gói chuyển nhà. Có hoá đơn thì được thanh toán theo hoá đơn mà không có hoá đơn thì được một cục 1500EUR. Mình có gom hết hoá đơn cũng chả đến số đấy mà lại mất công nên xin nhận một cục.

Thú thật là trước khi sang đây thì mình cũng không có khái niệm yêu ghét gì Hà Lan. Nếu nói chọn sang đây là do yêu thích Hà Lan thì hơi bốc phét. Nhưng càng ở lâu lại càng yêu đất nước con người Hà Lan, nhất là khí hậu. Cái duyên nợ với Hà Lan nó bắt đầu như thế.

 Đợi ở sân bay Frankfurt
Khảo sát ở chợ ngoài trời

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2020

Thăng hoa trong công việc - phần 2

Công việc tự tại

Serafina, Joe, và Bào Đinh là ví dụ về những người đã tạo cho mình một nhân cách tự tại. Đối diện với những hạn chế của môi trường sống, họ đã biến những bó buộc thành những cơ hội cho sự tự do và sáng tạo của chính mình. Đây là một cách tiếp cận để có được sự thăng hoa trong lao động đồng thời tạo nên chiều sâu cho công việc. Một cách tiếp cận khác là từ phía ngược lại đó là biến đổi công việc để tạo ra các đặc điểm dễ dàng đạt được thăng hoa, thậm chí là đối với những người chưa đạt đến tính cách tự tại. Khi công việc càng gần giống như một trò chơi - đa dạng, độ khó vừa đủ và dễ điều chỉnh, mục đích rõ ràng, có phản hồi ngay lập tức - thì công việc càng thích thú mà không tuỳ thuộc vào mức độ trưởng thành trong tính cách của người lao động.

Chẳng hạn như săn bắn, đây là một ví dụ về "công việc" vốn có các đặc tính dễ dàng tạo thăng hoa. Trong hàng ngàn năm, săn đuổi là một trong những hoạt động sản xuất chủ yếu của con người. Thực sự đi săn thích thú đến mức nhiều người hiện nay vẫn còn duy trì như một thú vui, mặc dù nó không còn thiết yếu cho đời sống. Việc đánh bắt cá cũng tương tự như vậy vậy. Tiếp theo trong lịch sử loài người, việc chăn thả du mục cũng là "công việc" mang nhiều đặc tính dễ thăng hoa. Những người da đỏ hiện nay ở bang Arizona mô tả rằng việc cưỡi trên lưng ngựa để chăn cừu là hoạt động thích thú nhất của họ. So với săn bắt và chăn thả, nông nghiệp là công việc khó hơn để cảm thấy thích thú. Nó ổn định hơn, có nhiều hoạt động lặp lại, và thành quả thì mất nhiều thời gian hơn để thấy được. Hạt giống được gieo xuống mất hàng tháng để có thể ra trái. Để thích thú với làm nông nghiệp, ta phải thực hiện trong một khoảng thời gian dài hơn rất nhiều so với đi săn. Trong khi người thợ săn trong một ngày có thể săn nhiều loại thú và thay đổi chiến thuật nhiều lần, người nông dân quyết định trồng cây gì, ở đâu, số lượng bao nhiêu chỉ một vài lần trong năm. Để có mùa màng bội thu, người nông dân mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị và chờ đợi cả một quá trình dài cầu mong cho mưa thuận gió hoà. Thật không ngạc nhiên khi thấy rằng nhiều cộng đồng du mục hay săn bắt chết dần chết mòn khi họ bị ép buộc định canh định cư. Họ thà chết còn hơn là chịu cảnh sống buồn bã. Tuy nhiên nhiều người cuối cùng cũng học được cách vui vẻ với việc làm nông nghiệp.

Việc làm đồ thủ công trước thế kỷ 18 trong lúc nông nhàn là những hoạt động được thiết kế để mang lại sự thích thú. Những người thợ dệt thủ công ở Anh với khung cửi ở ngay trong nhà. Cả gia đình cùng làm việc theo một thời gian biểu tự đặt ra. Họ tự đặt ra mục tiêu cho việc sản xuất và điều chỉnh nó theo khả năng mà họ tự cảm thấy mình có thể đạt đến. Nếu thời tiết tốt, họ có thể nghỉ dệt vải và chuyển sang công việc chăm sóc cây trái hoặc những luống rau. Khi thích họ có thể hát một vài bài dân ca và khi hoàn thành một tấm vải họ ăn mừng bằng những thức uống địa phương.

Cách làm việc này vẫn còn tồn tại ở một số nơi trên thế giới. Mặc dù công nghiệp hoá có thể tăng sản lượng, nhịp độ sản xuất ở những nơi này vẫn được duy trì ở mức độ nhân bản. Nhóm của GS Masimini đã phỏng vấn những nghệ nhân dệt vải ở tỉnh Biella miền bắc nước Ý, những người là cung cách làm việc vẫn không khác mấy so với những người dệt vải Anh hơn 2 thế kỷ trước. Mỗi gia đình có từ 2 đến 10 khung cửi, mà khi hoạt động chỉ cần một người vận hành. Người bố đứng máy vào buổi sáng, sau đó nhường cho người con, để mình vào rừng hái nấm hay đi câu cá ở con suối gần nhà. Người con trai đứng máy đến khi chán thì người mẹ sẽ tiếp quản.

Tất cả các thành viên gia đình, khi được phỏng vấn, nói rằng việc dệt vải là hoạt động vui thích nhất mà họ làm, hơn cả du lịch, đi khiêu vũ, câu cá, và hẳn nhiên là thích thú hơn là xem TV. Lý do làm việc với khung cửi rất thích thú bởi vì đó là một sự thử thách không ngừng. Mỗi thành viên gia đình sáng tạo ra các mẫu hình khác nhau cho tấm vải và khi được sản xuất đủ, họ sẽ chuyển sang mẫu khác. Mỗi gia đình lại tự quyết định dệt loại vải nào, mua nguyên vật liệu ở đâu, sản xuất bao nhiêu, và bán ở đâu. Một vài gia đình có khách hàng ở tận Nhật Bản hay Úc. Các thành viên gia đình thường đi đến những trung tâm sản xuất công nghiêp lớn để nắm bắt các kỹ thuật mới và mua sắm thiết bị cần thiết.

Tuy nhiên ở khắp thế giới phương Tây, cung cách lao động cá thể đầy vui thích như vậy đã bị phá vỡ bởi việc phát minh ra máy dệt chạy bằng sức kéo và sự hình thành các nhà máy dệt công nghiệp. Đến giữa thế kỷ 18, các gia đình sản xuất dệt thủ công nhìn chung là không thể cạnh tranh nổi với sản xuất công nghiệp đại trà. Các gia đình phải lý tán, những người lao động phải rời khỏi làng quê và chuyển đến những nhà máy lạnh lùng và độc hại. Họ phải tuân theo một lịch làm việc cứng nhắc từ sáng sớm đến tối mịt. Trẻ con có khi từ 7 tuổi đã phải làm việc đến kiệt sức bên cạnh những người xa lạ, mà chính những người này cũng đang bị khai thác đến kiệt quệ. Nếu lao động trước đây có một chút gì đó tốt đẹp, sự tốt đẹp đó đã tan biến cùng với cơn điên cuồng công nghiệp hoá lần thứ nhất.

Giờ đây chúng ta đang bắt đầu kỷ nguyên hậu công nghiệp và lao động dần trở nên nhẹ nhàng hơn. Hình ảnh những người lao động ngồi trước hệ thống với hàng dãy nút bấm và màn hình ở trong một phòng điểu khiển mát lạnh không có gì xa lạ. Trong khi đó, những cánh tay robot ở phân xưởng gần đó sẽ làm những công việc "thật sự". Trên thực tế thì đa số người lao động đã không còn tham gia vào công việc sản xuất mà họ làm ở mảng công việc gọi là dịch vụ. Những hoạt động đó không khác gì nghỉ dưỡng trong con mắt của những người nông dân và công nhân chỉ cách đây vài thế hệ. Phía trên họ là quản lý và chuyên gia, những người còn có nhiều không gian tự chủ hơn trong việc thực thi công việc của họ.

Công việc có thể nặng nhọc và nhàm chán hay vui vẻ và thú vị. Mới vài thế kỷ trước như đã xảy ra ở Anh trong những năm 1740, môi trường làm việc tương đối thoải mái đột nhiên đã bị biến đổi thành một cơn ác mộng. Những phát minh công nghệ như bánh xe nước, máy cày, máy hơi nước, điện, hay chip silicon có khả năng tác động vô cùng lớn đến lao đông, làm nó trở nên thích thú hoặc ngược lại. Lao động cũng chịu ảnh hưởng to lớn từ luật về đất đai, từ sự kết thúc của nô lệ và nô dịch, hay từ sự hợp thức hoá 40 giờ làm việc một tuần và lương tối thiểu. Nếu chúng ta nhận ra được trải nghiệm về lao động có thể được thay đổi được bằng chủ quan, chúng ta có thể tự mình nâng cao được chất lượng của sống, chí ít là trong công việc. Tuy thế hầu hết mọi người vẫn tin rằng lao động mãi mãi vẫn là lời nguyền dành cho loài người của Chúa.

Trên lý thuyết thì công việc nào cũng có thể được biến đổi để trở nên thích thú hơn, dựa theo nguyên tắc của mô hình thăng hoa. Tuy vậy sự thích thú của công việc không nhận được sự quan tâm đúng mức của những người có ảnh hưởng đến sự hình thành ra những công việc đó. Ban quản lý phải đặt năng suất lên hàng đầu và lãnh đạo công đoàn quan tâm trước hết đến an toàn, an ninh, và thu nhập của người lao động. Trong ngắn hạn, những ưu tiên này rất có thể đối nghịch với việc tạo nên các điều kiện giúp thăng hoa trong lao động. Điều này thật đáng tiếc vì khi người lao động thực sự yêu thích công việc, nó không những tốt cho chính cá nhân họ mà đồng thời giúp nâng cao năng suất và cuối cùng cũng sẽ đạt được tất cả mục tiêu đã được ưu tiên hơn trước đó.

Đồng thời thì cũng thật nhầm lẫn khi cho rằng tất cả các công việc đều có thể được xây dựng giống như những trò chơi và mọi người sẽ thích thú với nó. Kể cả khi những điều kiện khách quan thuận lợi nhất cũng không thể đảm bảo rằng một người sẽ thăng hoa. Điều này xảy ra bởi vì trải nghiệm tối ưu phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của một người về các cơ hội cho hành động và vào năng lực của người đó. Thực tế là có nhiều người cảm thấy chán nản với những công việc tuyệt vời chứa đựng nhiều cơ hội giúp thăng hoa.

Hãy thử lấy ví dụ về công việc giải phẫu trong bệnh viện. Không nhiều công việc liên quan đến trách nhiệm cao cả và đem lại danh tiếng cho những người hành nghề như vậy. Rõ ràng là nếu những thử thách khó khăn hay kỹ năng nghề nghiệp là những yếu tố quan trọng thì những bác sỹ ngoại khoa sẽ luôn hồ hởi với công việc của họ. Thật vậy, nhiều bác sỹ ngoại khoa nói rằng họ rất nghiện làm việc và không có gì trong cuộc sống của họ vui thích hơn. Không có gì có thể kéo họ ra khỏi bệnh viện, một kỳ nghỉ với biển xanh cát trắng hay một buổi nhạc hội được coi như là mất thời gian.

Tuy nhiên không phải tất cả các bác sỹ ngoại khoa nào đều hào hứng với công việc của mình. Một số người phải tìm đến rượu, bài bạc, hoặc lối sống buông thả để quên đi sự chán chường của công việc. Sao lại có những nhìn nhận khác biệt đến vậy về cùng một nghề nghiệp? Một lý do là có những bác sỹ ngoại khoa chấp nhận ở những vị trí lương cao nhưng lại làm những công việc thường nhật lặp lại. Những người này sẽ dần cảm thấy nhàm chán. Có những bác sỹ chỉ chuyên cắt ruột thừa hay amidan, một vài người thậm chí còn chỉ chuyên về vành tai. Chuyên sâu ở một lĩnh vực quá hẹp như vậy có thể đem lại nhiều bổng lộc nhưng sẽ khó cảm thấy hứng thú. Ở một thái cực ngược lại, có những nhà phẫu thuật tài giỏi luôn luôn cần những thử thách mới và muốn thực hiện những kỹ thuật cực khó. Đến một lúc nào đó họ sẽ không đáp ứng được chính kỳ vọng mà họ đặt ra. Những nhà phẫu thuật đại tài như vậy cuối cùng sẽ kiệt quệ về tinh thần bởi vì sau khi họ thăng hoa với việc hoàn thành những nhiệm vụ tưởng chừng như không thể, họ không thể tìm lại cảm giác đó một lần nữa khi lặp lại kỹ thuật cũ.

Những bác sỹ phẫu thuật có được sự thích thú trong công việc thường làm ở những bệnh viện tạo điều kiện cho sự đa dạng trong công việc, cho phép thử nghiệm những kỹ thuật mới nhất và kết hợp nghiên cứu và giảng dạy trong nhiệm vụ. Những bác sỹ thực sự yêu thích công việc của mình đúng là có liệt kê đến tiền, danh tiếng, và cứu người là những yếu tố quan trọng đối với họ. Nhưng sự hào hứng lớn nhất đến từ bản thân công việc. Cái mà phẫu thuật đặc biệt đem lại cho họ là những cảm nhận đến từ chính hoạt động giải phẫu. Cách họ mô tả cảm xúc của mình cũng giống như cảm xúc được thuật lại bởi những vận động viên, những nghệ sỹ, hay người đầu bếp Bào Đinh mổ bò cho vua Văn Huệ.

Cảm xúc này có thể được lý giải bởi vì hoạt động giải phẫu có những đặc điểm của một hoạt động tạo điều kiện cho thăng hoa. Chẳng hạn như các bác sỹ ngoại khoa nói rằng mục tiêu của cuộc giải phẫu là rất rõ ràng. Trong khi đó bác sỹ nội khoa phải làm việc với những vấn đề kém cụ thể và thường không tập trung tại một chỗ, hay những bác sỹ tâm lý thậm chí còn phải giải quyết những triệu chứng mơ hồ và dễ thay đổi. Ngược lại nhiệm vụ của bác sỹ phẫu thuật cực kỳ rõ ràng: cắt sạch khối u, đưa khớp xương về vị trí vốn có, hay làm cho một nội tạng nào đó hoạt động trở lại. Ca phẫu thuật kết thúc là khi vết mổ được khâu lại và vị bác sỹ có thể chuyển sang bệnh nhân tiếp theo. Một cảm giác công việc được hoàn thành rất rõ ràng.

Về đặc điểm phản hồi, quá trình phẫu thuật có những kết quả trông thấy ngay. Nếu không chảy máu trong khoang bụng tức là cuộc phẫu thuật đã đi đúng hướng, khối u được bóc tách ra, xương quay trở về vị trí của nó. Trong cả quá trình vị bác sỹ sẽ biết được mọi việc có đi đúng hướng hay không, nếu không thì cũng có thể tìm ra nguyên nhân ngay tại chỗ. Chỉ với lý do này, hầu hết các bác sỹ ngoại khoa tin rằng công việc của họ thích thú nhất so với các chuyên ngành y khác nói riêng hay các công việc khác nói chung.

Có một đặc điểm khác đó là không thiếu những thử thách khó khăn trong ngoại khoa. Theo một lời của một vị bác sỹ: "Tôi có được sự thích thú trí tuệ giống như một tay chơi cờ hay một nhà nghiên cứu về tăm xỉa răng của những người Ba Tư cổ đại... kỹ nghệ thủ công rất thích thú, hay giống như nghề mộc rất vui vẻ... Sự hấp dẫn của việc giải quyết những vẫn đề cực khó." Một vị bác sỹ khác thì nói: "Nó rất thoả mãn và khi có một chút khó khăn, tôi cảm thấy rất hào hứng. Thật tuyệt vời khi có thể chữa lành cho một nội tạng nào đó của bệnh nhân và để nó trở lại chính xác vị trí cũ. Cảm giác thật thoải mái, đặc biệt khi cả kíp phẫu thuật làm việc nhịp nhàng: một khung cảnh thật đẹp."

Trong câu chuyện của vị bác sỹ thứ hai sự thử thách trong cuộc cuộc giải phẫu không chỉ là ở mức độ cá nhân mà cả ở sự phối hợp của những người khác trong kíp mổ. Rất nhiều bác sỹ đã kể về cảm giác tuyệt vời khi được là một phần của một kíp mổ phối hợp nhịp nhàng ăn ý. Luôn luôn có những cơ hội học hỏi và tiếp tục nâng cao tay nghề. Trong con mắt của một vị bác sỹ: "Bạn sử dụng những dung cụ tinh vi. Bạn như là một nghệ sỹ... tất cả trông chờ vào bàn tay khéo léo và nghệ thuật của bạn trong suốt ca mổ." Một người khác thì nói: "Những tiểu tiết rất quan trọng để mọi thứ được hoàn hảo và hiệu quả. Tôi không thích những cử động rườm rà mất thời gian, do đó ca mổ phải được lên kế hoạch và nghiên cứu kỹ lưỡng nhất có thể. Tôi đặc biệt để ý đến từng mũi khâu, từng đường chỉ. Mọi thứ phải được trông như hoàn hảo và dễ dàng."

Cách mà các ca mổ được thực hiện giúp tránh sự phân tâm, trong khi lại tạo điều kiện để tập trung hết tâm huyết của một người vào việc trước mắt. Thật vậy, phòng mổ được trang bị như một sân khấu, với đèn mổ chiếu vào những cử động của người nghệ sỹ. Trước ca mổ, vị bác sỹ sẽ trải qua các bước chuẩn bị, khử trùng, và mặc bộ đồ phẫu thuật. Điều này cũng giống như vận động viên trước một cuộc đấu hay một thầy tu trước một buổi lễ. Những nghi lễ có một mục đích rất thực tế, nó như là một hàng rào giúp tách biệt giữa những lo lắng thường nhật để tập trung hoàn toàn trí não vào những gì xảy ra trước mặt. Một số bác sỹ nói rằng buổi sáng trước một ca mổ quan trọng, họ sẽ đặt mình vào "chế độ tự động" bằng cách ăn cùng một món ăn, mặc cùng một bộ quần áo, và đến bệnh viện cùng một tuyến đường. Họ làm thế không bởi vì mê tín mà vì nó giúp cho họ tập trung hoàn toàn trí não cho thử thách sắp tới.

Những bác sỹ ngoại khoa thật may mắn. Không phải bởi vì họ có thu nhập tốt hay họ được kính trọng mà bởi vì công việc của họ là những hoạt động có những đặc điểm nội tại giúp thăng hoa. Nhưng không phải ai cũng có thể tận dụng những đặc điểm này để thăng hoa. Có những bác sỹ trở nên hâm dở vì sự buồn chán hay bởi vì họ không thể trụ vững trên đỉnh cao danh tiếng. Điều này nói nên rằng mặc dù cấu trúc của công việc rất quan trọng nhưng bản thân nó không quyết định một người có thể tìm thấy sự thích thú ở đó hay không. Sự thoả mãn trong công việc còn phụ thuộc vào tính cách của người lao động. Tính cách này càng gần với tính cách tự tại càng dễ đạt thăng hoa. Người thợ hàn Joe vui thích với công việc mà không nhiều người cho rằng sẽ có thể đạt được thăng hoa. Trong lúc đó thì một số bác sỹ ngoại khoa trở nên căm ghét công việc của mình, loại công việc chứa nhiều yếu tố giúp thăng hoa.

Để nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua lao động, chúng ta cần có cả hai thành tố bổ sung cho nhau. Một mặt là công việc cần được thiết kế lại để có các hoạt động mang nhiều đặc tính giúp thăng hoa, giống như săn bắn, dệt thủ công, và phẫu thuật. Bên cạnh đó cũng cần phải giúp người lao động có thể phát triển tính cách tự tại như Serafina, Joe, hay Bào Đinh bằng việc đào tạo họ cách nhận biết những cơ hội cho hành động, cách trau dồi kỹ năng, và cách đặt ra các mục tiêu khả thi. Chỉ một thành tố không thể làm công việc trở nên vui thích. Khi cả hai thành tố có mặt đồng thời, nó sẽ đóng góp một cách to lớn cho việc đạt đến trải nghiệm tối ưu.

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2020

Thăng hoa trong công việc - phần 1

Thăng hoa (flow) của nhà tâm lý học Mihaly là một trong những quyển sách khó đọc nhưng tuyệt vời. Tôi đã được đọc cách đây khá lâu, mùa covid-19 rảnh rỗi, đọc lại vẫn thấy hay. Hình như quyển sách quý này chưa được dịch ra tiếng Việt. Xin mạn phép dịch một số đoạn của quyển sách vì tôi tin rằng bất cứ người nào cũng có thể tự nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, kể cả trong những thời điểm khó khăn nhất của cuộc sống.
*.*.*

Thăng hoa trong công việc

Giống như tất cả các loài động vật, con người chúng ta dành phần lớn thời gian để kiếm sống. Thức ăn cho cơ thể hoạt động không tự xuất hiện một cách kỳ diệu trên bàn. Nhà cửa và xe cộ không ngẫu nhiên mà có. Dù vậy không có một công thức chính xác để biết làm việc bao nhiêu lâu là đủ. Con người thời kỳ săn bắt hai lượm, giống như hậu duệ ngày nay còn sót lại của họ sống ở những nơi khắc nghiệt ở châu Phi và châu Úc, mất khoảng 3 đến 5 tiếng mỗi ngày dành cho ăn, mặc, ở, và chế tác công cụ. Những hoạt động mà ngày nay chúng ta gọi là làm việc. Họ dành phần còn lại của ngày để nói chuyện, nghỉ ngơi, hoặc nhảy múa. Ở thái cực ngược lại, công nhân trong thế kỷ 19 thường phải làm 12 tiếng một ngày, 6 ngày một tuần trong các nhà máy bẩn thỉu hay các hầm mỏ tối tăm nguy hiểm.

Công việc không chỉ khác nhau về khối lượng mà cả về chất lượng. Như một câu ngạn ngữ cổ của Ý: "Công việc đem lại tiếng tăm và cũng có thể biến con người thành súc vật".  Đây có thể đơn giản chỉ là một câu nói đùa về bản chất của công việc. Nhưng nó cũng có thể hiểu rằng có những công việc đòi hỏi những kỹ năng phức tạp, với sự chủ động của người làm việc. Bên cạnh đó cũng có những công việc không cần nhiều kỹ năng và người lao động bị gò ép trong những khuôn khổ lạnh lùng cứng nhắc. Bác sỹ phẫu thuật thực hiện ca mổ trong bệnh viện hiện đại hay những cửu vạn mang vác hàng hoá trên những con đường lầy lội đều làm việc. Tuy vậy vị bác sỹ có cơ hội để học hỏi những điều mới lạ hàng ngày. Càng ngày vị bác sỹ càng phát triển, chủ động trong công việc, và làm được những kỹ thuật ngày càng khó. Ở phía bên kia, người cửu vạn phải lặp lại những di chuyển mệt nhọc và những gì anh ta học được là sự bất lực không thể thoát ra khỏi hoàn cảnh.

Công việc là một thứ rất phổ quát nhưng cụ thể lại có nhiều khác biệt. Do đó công việc ảnh hưởng rất lớn đến sự thoả mãn trong cuộc sống của mỗi người. Thomas Carlyle không nhầm khi nói rằng: "Một người thật sự may mắn khi có được công việc mà từ đó anh ta không muốn tìm kiếm bất cứ một công việc nào khác". Sigmund Freud tiếp tục ý này một cách mạnh mẽ hơn. Khi được hỏi về công thức để hạnh phúc. Ông trả lời một cách ngắn gọn: "Công việc và tình yêu". Đúng vậy, nếu một người có được sự thăng hoa trong công việc và trong quan hệ với những người xung quanh, chất lượng sống sẽ không ngừng được cải thiện. Trong chương này chúng ta sẽ khám phá phương cách để có được sự thăng hoa trong công việc. Chương tiếp theo sẽ đề cập đến vế còn lại: tận hưởng sự tương tác với những người xung quanh.

Những người lao động tự tại

Adam bị thượng đế phạt phải lao động khổ sai vì phạm giới, việc này được mô tả trong kinh Sáng Thế đoạn 3:17. Câu chuyện này nhìn chung đã phản ánh cách mà các nền văn hoá, đặc biệt là những nền văn hoá đã đạt đến trình độ "văn minh", nhìn nhận về lao động. Lao động là một lời nguyền cần phải tránh bằng mọi giá. Thật vậy, bởi vì sự vận hành không hiệu quả của vũ trụ, chúng ta phải mất rất nhiều năng lượng chỉ để đáp ứng những nhu cầu của mình. Nếu con người không để ý đến việc ăn ngon mặc đẹp, ở trong những ngôi nhà tiện nghi, và có được những đồ dùng công nghệ mới nhất thì gánh nặng phải lao động sẽ nhẹ bớt rất nhiều. Ta có thể thấy được điều này còn hiện hữu ở nhiều bộ tộc ngày nay như những người du mục trên sa mạc Kalahari.

Tuy nhiên chúng ta càng bỏ nhiều công sức để theo đuổi những những giấc mơ vật chất, giấc mơ đó ngày càng lớn, và nó càng trở nên xa vời. Như một vòng xoáy, chúng ta sẽ tiếp bỏ nhiều công sức trí não và chân tay của chính mình và cả tài nguyên của mẹ thiên nhiên chỉ để đáp ứng những kỳ vọng ngày càng tăng. Suốt phần lớn chiều dài lịch sử, đa số những người sống trong các nền văn minh đã phải dành cả đời mình chỉ để hiện thực hoá giấc mơ cho một vài người. Những kẻ biết cách khai thác đến cùng cực đồng loại. Những kỳ quan được tạo ra bởi những nền văn minh như kim tự tháp, vạn lý trường thành, đền Taj Mahal, hay những đền thờ cung điện nguy nga, đều được xây dựng bởi mồ hôi, nước mắt, máu và cả tính mạng của những lao động khổ sai. Những người bị ép buộc làm việc chỉ để phục vụ tham vọng cho kẻ cầm quyền. Thật không ngạc nhiên để thấy lao động không có được một danh tiếng tốt.

Với tất cả sự kính trọng dành cho Kinh thánh, lao động dường như không đơn giản chỉ là khổ ải. Lao động có thể mệt mỏi, chí ít là mệt mỏi hơn là không làm gì. Nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy lao động có thể đem lại sự thích thú. Thực vậy, lao động thường là phần thích thú nhất của cuộc sống.

Một vài nền văn hoá được phát triển theo một cách khiến các công việc thường nhật trở nên gần giống với các hoạt động tạo cảm giác thăng hoa. Có những cộng đồng mà ở đó công việc và cuộc sống gia đình phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng lại được gắn kết một cách hài hoà. Ở vùng núi Alps ở châu Âu vẫn có nhiều cộng đồng như vậy sống trong những ngôi làng năm ngoài sự ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp. Tò mò về những trải nghiệm về cuộc sống trong thời kỳ tiền công nghiệp, nhóm nghiên cứu tâm lý học của GS người Ý Fausto Masimini và TS Antonella Delle Fave gần đây đã phỏng vấn một số dân cư ở những làng trên. Những ghi chép sau đó đã được chia sẻ một cách hào phóng cho tác giả.

Một đặc điểm nổi bật được thấy ở những dân cư ở đây là họ không thể tách biệt được thời gian lao động và thời gian tuỳ thích. Có thể nói rằng họ làm việc 16 tiếng mỗi ngày nhưng cũng có thể nói rằng họ không bao giờ làm việc cả. Một trong những cư dân đó, cụ bà 76 tuổi Serafina Vinon sống ở một ngôi làng nhỏ tên là Pont Trentaz, khu vực Val d'Aosta của vùng Alps của Ý. Bà vẫn dậy 5 giờ sáng hàng ngày để vắt sữa bò. Sau đó, bà nấu một bữa sáng thịnh soạn, dọn dẹp nhà cửa. Tiếp đó tuỳ vào thời tiết, bà có thể mang đàn bò ra đồng cỏ ngay dưới chân núi, chăm sóc vườn cây, hay làm len lông cừu. Mùa hè, bà dành nhiều tuần để cắt cỏ trên trên sườn đồi, sau đó đội những bó to về kho dự trữ. Bà có thể chỉ mất nửa thời gian đi bộ về kho nếu chọn con đường ngắn, tuy nhiên bà thường chọn đường dài hơn chỉ giữ cho sườn đất đỡ sạt lở. Buổi tối, bà thường đọc sách, kể chuyện cho những đứa cháu, hoặc chơi đàn accordion cho bạn bè, những người thường tụ tập vài lần một tuần tại nhà bà.

Serafina quen từng gốc cây, từng tảng đá, và từng vách núi, như chúng là những người bạn thân thiết. Những câu chuyện của gia đình trải dài nhiều thế kỷ đều gắn liền với cảnh vật xung quanh. Ở chính cây cầu đá cũ này, khi đại dịch hạch năm 1473 gần đến hồi kết, người đàn bà sống sót cuối cùng của làng Serafina, với cây đèn dầu trên tay, đã gặp người đàn ông cuối cùng của làng bên. Họ vực nhau dậy, kết hôn và trở thành cụ tổ của gia đình Serafina. Đây là những bụi mâm xôi mà bà của Serafina đã lạc khi còn nhỏ. Ngay tại tảng đá này, một kẻ xấu đã dùng chiếc cào cỏ đe doạ ông bác Andrew trong trận bão tuyết năm 1924.

Khi được hỏi bà đã tận hưởng những gì nhất trong cuộc đời, Serafina không ngần ngại trả lời: vắt sữa, chăn bò ngoài đồng cỏ, cắt cành tỉa cây, và làm len lông cừu. Thực tế là bà tận hưởng tất cả mọi hoạt động trong quá trình bà lao động để sống. Như lời bà nói: "Nó đem lại cho tôi sự thoả mãn. Được ra ngoài, nói chuyện với mọi người, được giao tiếp với các con vật. Tôi nói chuyện với mọi thứ, những cái cây, những con chim, những bông hoa, và những con vật. Mọi thứ trong thiên nhiên đều là những người bạn. Tôi thấy thiên nhiên thay đổi mỗi ngày. Tôi cảm thấy sảng khoái và hạnh phúc. Thật là tiếc khi tôi mệt và phải quay về nhà. Thậm chí khi tôi phải lao động rất nhiều nhưng đó là điều thật tuyệt vời."

Khi được hỏi bà sẽ làm gì nếu bà có tất cả thời gian và tiền bạc trên đời, Serafina cười và lặp lại danh sách các hoạt động: vắt sữa cho bò, đem bò ra ngoài đồng cỏ, làm vườn, và làm len lông cừu. Thật sai lầm khi cho rằng Serafina không biết đến những lựa chọn khác, kể cả đời sống thành thị. Thỉnh thoảng bà vẫn xem TV và đọc báo. Rất nhiều con cháu của bà sống ở thành phố lớn và có cuộc sống thoải mái. Tuy nhiên đời sống hiện đại và thời thượng không thu hút Serafina. Bà hoàn toàn mãn nguyện với vai trò của mình trên thế gian.

Mười người già nhất của làng Pont Trentaz, có tuổi đời 66 đến 82, tham gia phỏng vấn. Tất cả đều có phản hồi giống như Serafina. Không ai trong số họ phân biệt rạch ròi giữa thời gian lao động và thời gian nghỉ dưỡng. Tất cả đều cho rằng lao động là cội nguồn của những trải nghiệm tối ưu, họ đều không muốn làm việc ít hơn.

Hầu hết những người con của họ, những người cũng tham gia phỏng vấn, cùng có một thái độ tương tự với cuộc sống. Tuy nhiên, những người cháu, tuổi đời từ 20 đến 33, có thái độ giống quan điểm thông thường hơn về lao động. Nếu có thể, họ sẽ làm việc ít hơn và dành nhiều thời gian hơn cho nghỉ dưỡng: đọc sách, thể thao, du lịch, và đi xem những buổi trình diễn. Một phần làm nên sự khác biệt này có thể là tuổi tác. Những người trẻ thường ít mãn nguyện với những gì họ có, mong muốn sự thay đổi, và không kiên nhẫn với những điều lặp lại. Tuy vậy trong trường hợp này, sự khác biệt cũng là dấu hiệu của việc mất dần lối sống truyền thống, ở đó lao động có sự khăng khít chặt chẽ với bản sắc và mục tiêu tối thượng của mỗi người.  Một vài người trẻ tuổi ở Pont Trentaz khi về già có thể sẽ có cảm nhận giống như Serafina, nhưng có lẽ hầu hết sẽ không như thế. Thay vào đó, họ sẽ tiếp tục nới rộng sự cách biệt giữa công việc (cần thiết nhưng khó chịu) và nghỉ dưỡng (thoải mái nhưng giản đơn).

Cuộc sống ở ngôi làng trên dãy Alps này chưa bao giờ là dễ dàng. Để tồn tại, mỗi người phải giải quyết một loạt các thách thức bằng các công việc đơn giản nhưng nặng nhọc, bằng các kỹ năng thủ công điêu luyện, và bằng cả việc gìn giữ và phát triển bản sắc văn hoá (ngôn ngữ, dân ca, đồ mỹ nghệ).  Bằng một cách nào đó văn hoá ở đây biến những công việc này thành những hoạt động đầy thích thú. Thay bởi vì cảm thấy bị ép buộc do phải làm những việc cần thiết, mọi người ở đây đều đồng ý với Giuliana B., cụ bà 74 tuổi: "Tôi hoàn toàn tự do, tôi tự do trong công việc bởi vì tôi làm những gì tôi muốn. Nếu tôi không làm hôm nay, tôi có thể để sang hôm sau. Tôi không có sếp. Tôi chính là sếp của chính cuộc đời tôi. Tôi giữ cho mình sự tự do và tôi chiến đấu để có nó."

Hiển nhiên không phải tất cả các văn hoá trước thời đại công nghiệp đều tạo ra cuộc sống yên vui như vậy. Trong rất nhiều xã hội săn bắt hoặc nông nghiệp, cuộc sống chịu nhiều khắc nghiệt, hung bạo, và rất ngắn. Thật vậy, một vài cộng đồng trên dãy Alps, không xa Pont Trentaz, bị bao trùm bởi đói rét, bệnh tật, và dốt nát. Điều này được mô tả bởi những người viếng thăm vào cuối thế kỷ 19. Để đạt đến một cách sống có khả năng cân bằng giữa những mục tiêu trần tục của con người và môi trường thiên nhiên là một thành tựu không hề nhỏ. Nó giống như xây một ngôi đền kỳ vỹ mà những kẻ viếng thăm phải cúi đầu kính phục. Theo cách phản chứng, chỉ với một biệt lệ ta cũng có thể bác bỏ quan niệm là lao động thì luôn kém thích thú hơn là hoạt động nghỉ dưỡng tuỳ thích.

Vậy những người lao động ở thành thị thì thế nào? Những người mà công việc không hoàn toàn hiển nhiên liên quan đến sự tồn tại của chính họ. Không làm công việc này thì có thể công việc khác, miễn là có thu nhập. Thái độ của Serafina với công việc không riêng chỉ có ở các làng quê nông nghiệp. Chúng ta thỉnh thoảng vẫn thấy đâu đó giữa xã hội công nghiệp bận rộn. Một ví dụ điển hình là Joe Kramer, người đàn ông mà chúng tôi đã phỏng vấn trong những nghiên cứu trước đây về cảm giác thăng hoa. Joe hơn 60 tuổi và là thợ hàn tại một nhà máy chế tạo toa xe lửa phía nam Chicago. Khoảng 200 người làm việc trong ba phân xưởng xám xịt và rộng lớn nơi những tấm thép nặng hàng tấn được cần cẩu di chuyển qua lại trong phân xưởng, được cắt và hàn để tạo ra toa xe.  Mùa hè phân xưởng nóng như lò nung, mùa đông gió rét thổi xuyên từ ngoài vào. Những tiếng động chát chúa và tia lửa hàn bắn tung toé là điều bình thường ở đây. Tiếng ồn to đến mức mọi người phải hét vào tai nhau khi nói chuyện.

Joe đến Mỹ khi còn là một đứa trẻ 5 tuổi và rời ghế nhà trường từ năm lớp bốn. Joe đã làm việc tại đây hơn 30 năm và chưa bao giờ muốn được cất nhắc lên vị trí cao hơn. Ông đã từ chối nhiều lời đề nghị cất nhắc với lý do ông chỉ thích làm một người thợ hàn và không thấy thoải mái khi trở thành sếp của một ai đó. Mặc dù Joe ở hàng dưới cùng trong cơ cấu tổ chức của nhà máy, mọi người đều biết đến Joe và đồng ý rằng ông là người quan trọng nhất ở đây. Giám đốc nhà máy nói rắng nếu ông có thêm 5 người nữa như Joe, nhà máy này sẽ có năng suất cao nhất so với các nhà máy cùng lĩnh vực. Những người đồng nghiệp thì nói nếu thiếu Joe, họ có thể phải đóng cửa phân xưởng ngay lúc này.

Lý do để có được danh tiếng như vậy thật đơn giản: Joe thực tế đã nắm bắt được tất cả các công đoạn sản xuất trong nhà máy và ông có thể thay thế bất cứ công nhân nào nếu cần thiết. Hơn thế nữa ông có thể chữa được rất nhiều thiết bị, từ những cần cẩu to lớn đến những màn hình hiển thị điện tử tinh vi. Tuy vậy, cái làm mọi người ngạc nhiên không phải là Joe có thể làm được những việc này mà Joe làm chúng với sự thích thú khi được nhờ. Khi được hỏi tại sao ông có thể làm được những việc này mặc dù không qua đào tạo chính thức. Joe trả lời rất đơn giản. Từ khi còn nhỏ, cậu bé Joe đã thích thú với đủ loại máy móc. Joe đặc biệt chú ý đến những những hỏng hóc: "Khi lò nướng bánh mỳ của mẹ tôi không làm việc, tôi tự hỏi: "Nếu tôi là cái lò, tôi không thể nóng, vậy có cái gì không bình thường ở đây?"" Sau đó cậu bé tháo cái lò ra, tìm thấy lỗi hỏng, và sửa nó. Từ đó trở đi Joe sử dụng cách tiếp cận chân phương của mình để học và sửa những hệ thống máy móc ngày càng phức tạp. Joe chưa bao giờ nguôi với sự thích thú của việc khám phá. Dù gần đến tuổi về hưu, Joe vẫn tận hưởng công việc mỗi ngày.

Joe không phải là một người nghiện công việc, phải lệ thuộc vào những thử thách trong công việc để cảm thấy giá trị về bản thân. Joe đã biến một công việc nặng nhọc và nhàm chán thành những hoạt động mang nhiều đặc tính giúp thăng hoa. Tuy vậy những điều Joe làm ở nhà còn đáng nói hơn. Joe và vợ sống trong ngôi nhà một tầng bình dị ở ngoại ô thành phố. Qua nhiều năm, Joe đã mua lại hai khoảnh đất ở hai bên ngôi nhà. Từ đó Joe đã làm một khu vườn với những tảng đá, lối đi, rất nhiều hoa và cây ăn quả. Trong lúc lắp đặt hệ thống phun nước tưới cây, Joe loé lên ý tưởng tạo ra cầu vồng nhân tạo. Joe tìm kiếm các đầu phun có thể phun ra bụi nước đủ nhỏ vừa ý mình nhưng không có. Ông đã tự thiết kế lấy đầu phun và chế tạo ngay tại xưởng nhỏ trong tầng hầm nhà mình. Từ đó sau mỗi ngày làm việc, Joe có thể thưởng thức cầu vồng được tạo ra bởi hàng chục đầu phun bụi nước chỉ bằng một nút nhấn.

Tuy nhiên có một vấn đề nhỏ với khu vườn Eden của ông. Joe đi làm cả ngày, đến lúc về thì mặt trời đã xế bóng để có thể tạo ra trên những bụi nước một cầu vồng sặc sỡ. Quay trở lại bàn thiết kế, Joe tìm ra một lời giải đặc sắc cho vấn đề của mình. Ông lùng tìm những chiếc đen pha chiếu sáng mà quang phổ gần giống ánh sáng mặt trời để có thể tạo ra cầu vồng đẹp mắt. Joe lắp đặt hệ thống đèn quanh vườn. Thế là giữa đêm tối, Joe có thể tạo ra quanh nhà mình một khung cảnh sặc sỡ đầy mầu sắc của nước và ánh sáng.

Joe là một ví dụ hiếm về cái gọi là nhân cách tự tại, một nhân cách có thể tìm thấy những trải nghiệm thăng hoa thậm chí trong những môi trường tưởng như tồi tệ: nơi làm việc ô nhiễm và bẩn thỉu, nơi sinh sống nhiều nghiện ngập. Trong toàn bộ nhà máy, dường như chỉ có Joe là nhìn thấy những cơ hội cho những hành động thử thách bản thân. Những người thợ hàn khác mà chúng tôi phỏng vấn đều cho rằng công việc đối với họ là một gánh nặng cần thoát ra càng nhanh càng tốt. Khi tan tầm, họ sẽ toả ra và tìm đến những quán rượu. Cứ vài góc phố lại có một quán trong khu phố hình bàn cờ xung quanh nhà máy. Ở đó họ sẽ quên đi sự mệt nhọc của một ngày bằng bia và chuyện phiếm. Sau đó về nhà tiếp tục với bia và TV, giao lưu chút xíu với vợ. Một ngày được kết thúc như bao ngày khác.

Cũng có thể tranh luận rằng đánh giá cao lối sống của Joe hơn lối sống của những người đồng nghiệp là thiên lệch. Cuối cùng thì việc những người đàn ông vui vẻ trong quán rượu và việc bỏ công sức cải tạo vườn tược thì việc nào hơn việc nào? Dựa theo thuyết tương đối văn hoá [đánh giá văn hoá của mỗi người phải dựa vào hệ quy chiếu của chính họ] thì những phản biện trên có vẻ hợp lý. Tuy nhiên khi chúng ta hiểu rằng mức độ tận hưởng phụ thuộc vào sự phức tạp của hành động, tranh luận dựa trên thuyết tương đối văn hoá trong trường hợp này là không hợp lý. Chất lượng sống của những người như Joe rõ ràng ở trình độ cao hơn và mức độ tận hưởng cao hơn là của những người không chịu nỗ lực để thay đổi hoàn cảnh buồn bã của mình.

Quan điểm cho rằng nếu lao động được nhìn nhận như những hoạt động thăng hoa, thì đó là cách tốt nhất để khai phá hết tiềm năng con người. Điều này đã được nhắc đến nhiều trong tôn giáo và các hệ thống triết lý. Đối với những con chiên trong thời kỳ trung cổ, có thể nói rằng việc gọt vỏ khoai tây cũng quan trọng như việc xây dựng một nhà thờ đồ sộ nếu đó đều là những việc để lan toả ánh hào quang của Chúa. Với Karl Marx thì con người thể hiện sự tồn tại của họ qua lao động tạo ra của cải vật chất. Không có sự tồn tại nào, Marx khẳng định, ngoài sự tồn tại được thể hiện qua lao động. Lao động không chỉ cải tạo môi trường bằng cách xây dựng những cây cầu bắc qua sông hay khai hoang đất trồng mà còn biến đổi con người từ một động vật được dẫn dắt bởi bản năng trở thành con người có tri thức, có kỹ năng, và biết theo đuổi mục tiêu.

Một ví dụ thú vị về hiện tượng thăng hoa được đề cập bởi các triết gia thủa xưa là khái niệm Đạo của Trang Tử, một nhà Lão giáo. Đạo được hiểu là cách bước đi chuẩn mực trên một con đường. Đạo còn được dịch thành "du hành", "phiêu du", "bơi", "bay",  hay "trôi bồng bềnh". Trang Tử tin rằng Đạo chính là cách sống đúng đắn: không để ý đến sự ghi nhận từ bên ngoài, tự phát, với tất cả tâm huyết. Một cách ngắn gọn, đó là một trải nghiệm hoàn toàn tự tại.

Một ví dụ để làm sao đạt đến Đạo, hay làm sao để thăng hoa, mà Trang Tử nhắc đến trong Nam Hoa Kinh là về một người làm công. Người này là tên bếp Bào Đinh chuyên mổ bò cho vua Văn Huệ nước Nguỵ. Học trò ở Hồng Công và Đài Loan ngày nay vẫn phải học thuộc đoạn trích: "Tên bếp Bào Đinh mổ bò, mỗi cử động của tay hắn, mỗi nhấp nhô của đôi vai, mỗi nhún nhẩy của đầu gối, hắn lia lưỡi dao cắt xoẹt xoẹt, phát những âm thanh có tiết tấu y như khúc tang lâm và bản nhạc kinh thủ".

Vua Văn Huệ thích thú khi thấy mức độ phiêu bồng (hay thăng hoa, Đạo) mà người đầu bếp tìm thấy trong công việc của hắn. Vua khen tên bếp về kỹ thuật tuyệt vời của hắn. Tên bếp từ chối lời khen bởi vì đó không đơn giản chỉ là kỹ thuật: "Thần nhờ theo cái Đạo, nó vượt ra ngoài kỹ thuật." Sau đó hắn giải thích làm sao hắn đạt được đỉnh cao như vậy: do hiểu được cơ cấu thiên nhiên của con bò, điều đó giúp hắn lách lưỡi dao vào những chỗ kẽ trong thân thể bò. "Cảm quan ngưng lại, chỉ còn tâm thần là hoạt động."

Giải thích của tên bếp dường như ám chỉ rằng Đạo và thăng hoa là kết quả của những quá trình khác nhau. Một số nhà phề bình nhấn mạnh về sự khác biệt: thăng hoa là kết quả của sự cố gắng có ý thức còn Đạo đạt được khi không dùng ý thức. Ở khía cạnh này các nhà phê bình cho rằng thăng hoa là một cách tiếp cận của phương Tây trên con đường tìm kiếm trải nghiệm tối ưu. Theo họ thì cách này dựa trên việc thay đổi các điều kiện khách quan chẳng hạn như giải quyết vấn đề bằng các kỹ năng, trong khi Đạo là một cách tiếp cận của phương Đông. Đạo không chú trọng đến điều kiện khách quan mà tập trung vào sự hứng khởi trong tinh thần và sự siêu phàm.

Vậy tại sao một người có thể đạt được trải nghiệm siêu việt và sự hứng khởi trong tinh thần? Trong Nam Hoa Kinh, Trang tử có một số kiến giải cho câu hỏi này. Kiến giải này trái ngược với cách hiểu về Đạo của một số nhà phê bình đã nhắc ở trên. Nam Hoa Kinh có đoạn: "mỗi khi gặp những chỗ khó, gân xương sát nhau quá, thì thần phải nhìn kỹ, hành động thật chậm, con dao cử động một cách rất nhẹ nhàng, đến khi cả khối đứt lìa rơi xuống như bùn rơi xuống đất. Bấy giờ thần cầm dao, ngoảnh nhìn bốn phía, hoàn toàn đắc ý, chùi sạch con dao rồi đem cất nó đi."

Một số nhà nghiên cứu ban đầu cho rằng đoạn này nói về phương pháp của một người đồ tể bình thường và không phải là cách để đạt đến Đạo. Gần đây các nhà nghiên cứu như Watson và Graham tin rằng đấy chính là phương pháp làm việc phiêu bồng của người bếp Bào Đinh. Dựa trên những kiến thức về thăng hoa của mình, tôi tin rằng cách hiểu thứ hai là đúng. Nó chứng minh rằng sau khi đã thành thạo nhiều cấp độ về kỹ thuật, Đạo vẫn cần được duy trì bằng cách tiếp tục tìm ra các thử thách mới ("mỗi khi gặp những chỗ khó, gân xương sát nhau quá, thì thần phải nhìn kỹ") và sự phát triển tiếp tục của kỹ thuật ("thì thần phải nhìn kỹ, hành động thật chậm, con dao cử động một cách rất nhẹ nhàng").

Nói một cách khác, sự đắc Đạo không đến từ sự siêu phàm nào đó mà đơn giản là từ việc dần hướng sự tập trung vào hành động để giải quyết các bài toán đặt ra bởi môi trường xung quanh. Từ đó tiệm cận dần đến mức nghệ thuật và theo thời gian nó dường như lại được thấy xuất phát từ bên trong và có vẻ huyền diệu. Sự trình diễn của người nhạc công suất sắc hay của một nhà toán học tài năng cũng được thấy dường như là xuất phát từ bên trong. Nhưng thực tế trình độ đỉnh cao đó có được là qua cả một quá trình khổ luyện từ thấp đến cao. Nếu cách hiểu của tôi là đúng, thì Đạo của phương Đông và trải nghiệm thăng hoa của Phương Tây là một: trong cả hai nền văn hoá, sự phiêu bồng đều có nguồn cơn giống nhau. Người bếp của vua Văn Huệ là một ví dụ về việc tìm thấy sự thăng hoa ở những nơi dường như không thể, ở những công việc thấp kém nhất trong xã hội. Một điều thật đáng nể là từ 23 thế kỷ trước sự thăng hoa đã được đề cập đến một cách chi tiết.

Bà cụ nông dân ở dãy Alps, người thợ hàn ở Chicago, và người đầu bếp ở Trung Hoa cổ đại đều có một điểm chung: công việc của họ nặng nhọc và thấp kém, ở đó hầu hết mọi người đều chỉ thấy sự buồn chán, lặp lại, và vô nghĩa. Vậy mà ba người họ đã biến công việc họ phải làm thành những hoạt động có chiều sâu. Họ làm được thế bởi vì họ nhận ra những cơ hội dành cho hành động mà những người khác không nhận ra, từ đó phát triển kỹ năng bằng cách tập trung cao độ vào hành động trước mắt. Họ hoà mình vào công việc rồi sau đó lại thoát ra với bản ngã phát triển hơn. Công việc trở nên thích thú và đó là kết quả của việc chuyên tâm một cách cao độ. Dường như việc làm của họ là sự lựa chọn của chính họ chứ không phải do hoàn cảnh ép buộc.

*.*.*

Chú thích thêm của người dịch: Bất cứ việc to hay việc nhỏ nào đều có thể biến thành cơ hội để dẫn đến thăng hoa nếu ta biến đổi nó để có được 5 đặc tính sau: cần kỹ năng, có mục tiêu, đủ khó những không quá khó, tuân theo một luật lệ nhất định, có phản hồi. Ví dụ như việc nấu ăn nếu ta đặt mục tiêu như làm nhanh hơn một chút, làm gọn hơn một chút so với hôm qua, phá cách một chút những phải hiểu được nguyên tắc phối hợp nguyên liệu và phương pháp chế biến, tự nếm hay những lời khen chê của mọi người sẽ là những phản hồi giúp ta không ngừng trở thành một đầu bếp nghiệp dư giỏi. Hay như việc phải chép phạt, nếu bạn đặt mục tiêu về thời gian và nét chữ đẹp, một hình phạt khó chịu lại có thể biến thành một hoạt động mang nhiều khoái cảm.

Còn tiếp...

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2020

Hội chờ

     Tặng người thi sỹ

Hôm nay gió lạnh trời mưa
Ngoài hiên tong tả trời trưa tối mù
Tóc sương bếp lửa phập phù
Mình em lẻ bóng thu lu mơ màng

Năm xưa quan họ hội làng
Liền anh liền chị hai hàng xướng ca
Có người thi sỹ miền xa
Đối thơ bay lượn lời pha tiếng cười

Mắt nhìn mắt đỏ mặt người
Gặp đây tưởng đã mười mươi duyên trời
Chưa thề chắng hứa một lời
Mà lòng em nguyện một đời sắt son

Hội sau chờ đến mỏi mòn
Thi nhân lỗi hẹn mộng tròn vỡ tan
Môi cười lòng quặn thở than
Ngu ngơ đâu biết lang thang mây trời

Người ta nhân thế rong chơi
Còn em nhân thế chơi vơi một đời
Yếm đào đến hội mang phơi
Thơm mùi xưa cũ hắt hơi nhắc người

Hội này đếm mới năm mươi...